Bỏ qua, tới nội dung chính

Tỉnh · Trung du và miền núi phía Bắc

Phú Thọ

Thông tin tổng quan

Địa lý

Vùng
Trung du và miền núi phía Bắc
Tọa độ địa lý
20°47′ B, 105°15′ Đ
Diện tích
9.361,8 km²Bộ Nội vụ, 2025
Biên giới quốc gia
Không
Bờ biển
Không — nằm sâu trong đất liền

Dân cư

Dân số
4.022.493 ngườiBộ Nội vụ, 2025
Mật độ dân số
429,7 người/km²Bộ Nội vụ, 2025

Hành chính

Loại đơn vị
Tỉnh
Trung tâm hành chính
Việt Trì
Hình thành
Hợp nhất từ Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc (1/7/2025)
Đơn vị cấp xã
148 — gồm 15 phường, 133 xã
Biển số xe
19, 28, 88
Đầu mã bưu chính
15, 35, 36

Kinh tế

Tăng trưởng GRDP
—Cục Thống kê, 2025

Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.

Hình thành từ

Số liệu chính

Diện tích

9.362km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 15/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Dân số

4.022.493người

Xếp hạng toàn quốc: hạng 11/34

Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.

Mật độ dân số

430người/km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 11/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Số đơn vị cấp xã

148đơn vị

Xếp hạng toàn quốc: hạng 3/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Xếp hạng theo dân số

  1. 1Thành phố Hồ Chí Minh14.668.098
  2. 2Hà Nội8.807.523
  3. 3An Giang4.995.214
  4. 4Hải Phòng4.664.124
  5. 5Đồng Nai4.491.408
  6. 6Ninh Bình4.412.264
  7. 7Đồng Tháp4.370.046
  8. 8Thanh Hóa4.320.947
  9. 9Vĩnh Long4.257.581
  10. 10Cần Thơ4.199.788
  11. 11Phú Thọ4.022.493
  12. 12Lâm Đồng3.872.999

Phường, xã và đặc khu

Phú Thọ có 148 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.

Tô màu theo
  • Hòa Bình46
  • Phú Thọ66
  • Vĩnh Phúc36

Đang tải bản đồ…

Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.

Hiển thị 148/148

Danh sách đơn vị hành chính cấp xã
TênLoạiThuộc tỉnh cũDiện tích (km²)
An BìnhXãHòa Bình127,4
An NghĩaXãHòa Bình95,7
Âu CơPhườngPhú Thọ12,5
Bản NguyênXãPhú Thọ28,3
Bao LaXãHòa Bình104,3
Bằng LuânXãPhú Thọ59,8
Bình NguyênXãVĩnh Phúc30,6
Bình PhúXãPhú Thọ28,3
Bình TuyềnXãVĩnh Phúc58,5
Bình XuyênXãVĩnh Phúc29,5
Cao DươngXãHòa Bình113,4
Cao PhongXãHòa Bình77,8
Cao SơnXãHòa Bình124,9
Cẩm KhêXãPhú Thọ50,4
Chân MộngXãPhú Thọ89,9
Chí ĐámXãPhú Thọ49,4
Chí TiênXãPhú Thọ23,8
Cự ĐồngXãPhú Thọ45,8
Dân ChủXãPhú Thọ29,9
Dũng TiếnXãHòa Bình101,1
Đà BắcXãHòa Bình136,8
Đại ĐìnhXãVĩnh Phúc44
Đại ĐồngXãHòa Bình81,4
Đan ThượngXãPhú Thọ84,2
Đạo TrùXãVĩnh Phúc83,8
Đào XáXãPhú Thọ45,5
Đoan HùngXãPhú Thọ44,8
Đồng LươngXãPhú Thọ36,3
Đông ThànhXãPhú Thọ32,3
Đức NhànXãHòa Bình107,6
Hạ HoàXãPhú Thọ41,2
Hải LựuXãVĩnh Phúc38,8
Hiền LươngXãPhú Thọ81,4
Hiền QuanXãPhú Thọ31,4
Hoà BìnhPhườngHòa Bình39,3
Hoàng AnXãVĩnh Phúc20,8
Hoàng CươngXãPhú Thọ39,5
Hội ThịnhXãVĩnh Phúc25,1
Hợp KimXãHòa Bình86,3
Hợp LýXãVĩnh Phúc34,1
Hùng ViệtXãPhú Thọ32,8
Hương CầnXãPhú Thọ81,3
Hy CươngXãPhú Thọ24
Khả CửuXãPhú Thọ148,5
Kim BôiXãHòa Bình64,6
Kỳ SơnPhườngHòa Bình115,7
Lạc LươngXãHòa Bình130,4
Lạc SơnXãHòa Bình58,1
Lạc ThuỷXãHòa Bình90,7
Lai ĐồngXãPhú Thọ108,5
Lâm ThaoXãPhú Thọ15,5
Lập ThạchXãVĩnh Phúc39,1
Liên ChâuXãVĩnh Phúc26
Liên HoàXãVĩnh Phúc18,8
Liên MinhXãPhú Thọ21
Liên SơnXãHòa Bình120,2
Long CốcXãPhú Thọ67,1
Lương SơnXãHòa Bình131,2
Mai ChâuXãHòa Bình147,7
Mai HạXãHòa Bình71,9
Minh ĐàiXãPhú Thọ84,7
Minh HoàXãPhú Thọ68,4
Mường BiXãHòa Bình94,8
Mường ĐộngXãHòa Bình144,7
Mường HoaXãHòa Bình104,5
Mường ThàngXãHòa Bình91,6
Mường VangXãHòa Bình69,8
Nật SơnXãHòa Bình154,7
Ngọc SơnXãHòa Bình114,6
Nguyệt ĐứcXãVĩnh Phúc19
Nhân NghĩaXãHòa Bình81,4
Nông TrangPhườngPhú Thọ15,9
Pà CòXãHòa Bình115,8
Phong ChâuPhườngPhú Thọ29,6
Phú KhêXãPhú Thọ37,1
Phú MỹXãPhú Thọ27,4
Phù NinhXãPhú Thọ39,3
Phú ThọPhườngPhú Thọ23,1
Phúc YênPhườngVĩnh Phúc23,4
Phùng NguyênXãPhú Thọ30,6
Quảng YênXãPhú Thọ39,6
Quy ĐứcXãHòa Bình147
Quyết ThắngXãHòa Bình59,7
Sông LôXãVĩnh Phúc33,4
Sơn ĐôngXãVĩnh Phúc26,7
Sơn LươngXãPhú Thọ96,9
Tam DươngXãVĩnh Phúc44,3
Tam Dương BắcXãVĩnh Phúc45,8
Tam ĐảoXãVĩnh Phúc79,2
Tam HồngXãVĩnh Phúc22,6
Tam NôngXãPhú Thọ28,3
Tam SơnXãVĩnh Phúc33,1
Tân HoàPhườngHòa Bình57
Tân LạcXãHòa Bình139,9
Tân MaiXãHòa Bình130,7
Tân PheoXãHòa Bình139,4
Tân SơnXãPhú Thọ118,2
Tây CốcXãPhú Thọ59,1
Tề LỗXãVĩnh Phúc18,3
Thái HoàXãVĩnh Phúc29
Thanh BaXãPhú Thọ38,6
Thanh MiếuPhườngPhú Thọ19,6
Thanh SơnXãPhú Thọ84,6
Thanh ThuỷXãPhú Thọ31,1
Thịnh MinhXãHòa Bình89,2
Thọ VănXãPhú Thọ43,5
Thổ TangXãVĩnh Phúc21,3
Thống NhấtPhườngHòa Bình55,2
Thu CúcXãPhú Thọ100,5
Thung NaiXãHòa Bình86,3
Thượng CốcXãHòa Bình58,4
Thượng LongXãPhú Thọ60,4
Tiên LữXãVĩnh Phúc31,8
Tiên LươngXãPhú Thọ54,6
Tiền PhongXãHòa Bình116,3
Toàn ThắngXãHòa Bình71,1
Trạm ThảnXãPhú Thọ32,6
Trung SơnXãPhú Thọ97,3
Tu VũXãPhú Thọ49,1
Vạn XuânXãPhú Thọ52,4
Văn LangXãPhú Thọ54,1
Văn MiếuXãPhú Thọ89,1
Vân BánXãPhú Thọ22,7
Vân PhúPhườngPhú Thọ26,3
Vân SơnXãHòa Bình120,5
Việt TrìPhườngPhú Thọ25,8
Vĩnh AnXãVĩnh Phúc21,4
Vĩnh ChânXãPhú Thọ27,1
Vĩnh HưngXãVĩnh Phúc18,7
Vĩnh PhúXãVĩnh Phúc34,6
Vĩnh PhúcPhườngVĩnh Phúc25,3
Vĩnh ThànhXãVĩnh Phúc22
Vĩnh TườngXãVĩnh Phúc26,2
Vĩnh YênPhườngVĩnh Phúc25
Võ MiếuXãPhú Thọ96,4
Xuân ĐàiXãPhú Thọ209,6
Xuân HoàPhườngVĩnh Phúc96
Xuân LãngXãVĩnh Phúc29,9
Xuân LũngXãPhú Thọ24
Xuân ViênXãPhú Thọ46,2
Yên KỳXãPhú Thọ53,6
Yên LạcXãVĩnh Phúc21,7
Yên LãngXãVĩnh Phúc38,2
Yên LậpXãPhú Thọ69,1
Yên PhúXãHòa Bình63,7
Yên SơnXãPhú Thọ75,5
Yên ThuỷXãHòa Bình76,2
Yên TrịXãHòa Bình82

Tổng quan

Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, trải từ chân dãy Tam Đảo ở phía đông, qua vùng đồi thấp hai bên sông Hồng và sông Lô, tới các thung lũng Mường và hồ thủy điện trên sông Đà ở phía tây nam. Tỉnh hiện nay được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15 của Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh cũ Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình. Tên Phú Thọ được giữ lại, trung tâm hành chính đặt tại Việt Trì, thành phố nằm nơi sông Lô đổ vào sông Hồng.

Vùng đất này được người Việt coi là đất Tổ: theo truyền thuyết và sử cũ, các vua Hùng đóng đô ở Phong Châu, và Khu di tích lịch sử Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh là nơi diễn ra quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm. Tỉnh mới còn mang ba bản sắc khác nhau: vùng trung du "rừng cọ, đồi chè" của Phú Thọ cũ, vùng đồng bằng – trung du công nghiệp hóa nhanh của Vĩnh Phúc cũ, và vùng núi của người Mường ở Hòa Bình cũ — nơi đã đặt tên cho văn hóa Hòa Bình, một nền văn hóa tiền sử nổi tiếng của Đông Nam Á.

Lịch sử

Tiền sử và thời Hùng Vương

Lưu vực sông Hồng, sông Lô và sông Đà trong địa phận tỉnh là một trong những nơi có chuỗi di chỉ khảo cổ liên tục nhất Việt Nam. Ở vùng núi đá vôi Hòa Bình, nhà khảo cổ học người Pháp Madeleine Colani khai quật nhiều mái đá, hang động và năm 1932 xác lập văn hóa Hòa Bình — nền văn hóa săn bắt, hái lượm có niên đại hơn mười nghìn năm, tên gọi nay được dùng cho cả một kỹ nghệ đá cuội trên khắp Đông Nam Á. Ở vùng đồi Phú Thọ có văn hóa Sơn Vi, mang tên một xã thuộc huyện Lâm Thao cũ. Sang thời đại kim khí, các di chỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ) và Đồng Đậu (Vĩnh Phúc) cho thấy các giai đoạn tiền Đông Sơn, nối tiếp nhau dẫn tới văn hóa Đông Sơn.

Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh trăm trứng; người con trưởng lên ngôi vua Hùng, lập nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, vùng ngã ba Bạch Hạc thuộc Việt Trì ngày nay. Mười tám đời vua Hùng là hình ảnh gốc của ý niệm cội nguồn dân tộc. Câu ca dao "Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba" gắn trực tiếp với vùng đất này.

Thời Bắc thuộc và các triều đại phong kiến

Thời Bắc thuộc, vùng này thuộc quận Giao Chỉ, với huyện Mê Linh là đất của Hai Bà Trưng, người khởi nghĩa năm 40. Phần lớn Mê Linh lịch sử nằm trong tỉnh Vĩnh Phúc cũ cho tới năm 2008, khi huyện Mê Linh được chuyển về Hà Nội. Vùng núi phía tây nam là đất các mường của người Mường, tổ chức theo chế độ lang đạo cha truyền con nối.

Dưới các triều Lý, Trần, Lê, vùng này là phên dậu phía tây bắc của kinh thành Thăng Long. Đời Trần để lại tháp Bình Sơn ở Lập Thạch, một ngọn tháp đất nung nhiều tầng hiếm hoi còn lại. Tướng Trần Nguyên Hãn, người Sơn Đông (Lập Thạch), là một trong những khai quốc công thần của nhà Lê sơ. Thời Lê và Nguyễn, phần lớn Phú Thọ cũ thuộc trấn rồi tỉnh Hưng Hóa, một đơn vị rộng quản lý gần như toàn bộ vùng Tây Bắc; Vĩnh Phúc cũ thuộc trấn Sơn Tây và một phần Kinh Bắc.

Thời Pháp thuộc

Sau khi chiếm Bắc Kỳ, người Pháp chia lại các tỉnh lớn. Ở vùng Mường, năm 1886 họ lập tỉnh Mường, đến năm 1896 đổi tên thành tỉnh Hòa Bình. Tỉnh Vĩnh Yên được lập năm 1899; tỉnh Phúc Yên được tách lập ở phía đông. Tỉnh Hưng Hóa được tổ chức lại, tỉnh lỵ chuyển về thị xã Phú Thọ và tỉnh mang tên Phú Thọ từ đầu thế kỷ 20. Người Pháp mở đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy dọc sông Hồng qua Phúc Yên, Vĩnh Yên, Việt Trì, Phú Thọ, và từ năm 1904 xây khu nghỉ mát Tam Đảo trên núi.

Vùng này là địa bàn của nhiều phong trào chống Pháp. Thủ lĩnh Cần Vương Nguyễn Quang Bích hoạt động và mất ở vùng núi Yên Lập. Người Vĩnh Tường có Đội Cấn, lãnh đạo cuộc binh biến Thái Nguyên năm 1917, và Nguyễn Thái Học, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng, người tổ chức khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.

Kháng chiến và thời kỳ sau 1954

Trong kháng chiến chống Pháp, vùng Hòa Bình là chiến trường lớn: mùa đông 1951 – đầu 1952, chiến dịch Hòa Bình buộc quân Pháp rút khỏi thị xã và đường số 6; anh hùng Cù Chính Lan hy sinh trong chiến dịch này. Tháng 9/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng và nói với cán bộ, chiến sĩ: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước."

Sau hòa bình, Việt Trì được xây dựng thành trung tâm công nghiệp và được nâng lên thành phố từ đầu thập niên 1960. Trong kháng chiến chống Mỹ, người Vĩnh Phúc có anh hùng Nguyễn Viết Xuân, gắn với khẩu lệnh "Nhằm thẳng quân thù! Bắn!". Cuối thập niên 1960, Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc thí điểm khoán hộ trong nông nghiệp — cách làm khi đó bị phê phán, nhưng về sau được xem là tiền thân của chính sách khoán và Đổi mới.

Ba tỉnh cũ trước năm 2025

  • Phú Thọ và Vĩnh Phúc được hợp nhất năm 1968 thành tỉnh Vĩnh Phú, tỉnh lỵ Việt Trì. Năm 1996, Quốc hội quyết định chia lại; từ đầu năm 1997, hai tỉnh Phú Thọ (tỉnh lỵ Việt Trì) và Vĩnh Phúc (tỉnh lỵ Vĩnh Yên) được tái lập.
  • Vĩnh Phúc ra đời năm 1950 khi hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên. Sau khi tái lập năm 1997, tỉnh công nghiệp hóa nhanh nhờ vị trí sát Hà Nội và sân bay Nội Bài. Năm 2008, huyện Mê Linh được chuyển về thủ đô.
  • Hòa Bình hợp nhất với Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình theo quyết định cuối năm 1975; năm 1991, tỉnh Hòa Bình được tái lập với tỉnh lỵ là thị xã, sau này là thành phố Hòa Bình. Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà khởi công năm 1979 và khánh thành năm 1994.

Hợp nhất năm 2025

Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025, có hiệu lực từ 1/7/2025, ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình hợp nhất thành tỉnh Phú Thọ mới, trung tâm chính trị – hành chính tại Việt Trì. Cùng lúc, cấp huyện bị bãi bỏ trên cả nước; tỉnh vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm tỉnh và các xã, phường. Các tên gọi Vĩnh Phúc và Hòa Bình không còn là tên đơn vị cấp tỉnh, nhưng vẫn sống trong tên sông hồ, công trình, di sản và trong cách người dân gọi quê mình.

Địa lý

Tỉnh nằm ở phía tây bắc và tây Hà Nội, giáp Hà Nội ở phía đông và đông nam, giáp Thái Nguyên và Tuyên Quang ở phía bắc và đông bắc, Lào Cai ở phía tây bắc, Sơn La ở phía tây, Thanh Hóa và Ninh Bình ở phía nam. Địa hình thấp dần từ tây sang đông và có ba mảng rõ rệt:

  • Vùng núi phía tây và tây nam (Hòa Bình cũ và phần tây Phú Thọ cũ): núi đá vôi, thung lũng hẹp và cao nguyên nhỏ, nối tiếp dãy núi Tây Bắc. Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở đây, cùng các khu bảo tồn thiên nhiên như Hang Kia – Pà Cò và Ngọc Sơn – Ngổ Luông.
  • Vùng trung du đồi thấp hai bên sông Hồng, sông Lô, sông Chảy: đồi bát úp trồng chè, cọ, keo, xen ruộng lúa thung lũng.
  • Vùng đồng bằng và dãy Tam Đảo ở phía đông (Vĩnh Phúc cũ): dải đồng bằng phù sa nối liền đồng bằng sông Hồng, phía bắc là dãy Tam Đảo với Vườn quốc gia Tam Đảo.

Hệ thống sông gồm sông Hồng, sông Lô, sông Chảy (hợp vào sông Lô), sông Đà và sông Bôi. Sông Đà nhập sông Hồng ở khu vực ranh giới với Hà Nội, còn ngã ba Bạch Hạc, nơi sông Lô gặp sông Hồng, nằm ngay Việt Trì. Hồ Hòa Bình trên sông Đà là một hồ chứa lớn, len giữa núi đá vôi. Phú Thọ cũ còn có những hồ tự nhiên như Ao Châu ở Hạ Hòa; Vĩnh Phúc cũ có hồ Đại Lải và đầm Vạc.

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều. Trên núi Tam Đảo và các vùng núi cao khí hậu mát quanh năm. Thiên tai chủ yếu là lũ lớn trên sông Hồng, sông Lô, sông Đà, lũ quét và sạt lở đất ở vùng núi Hòa Bình và tây Phú Thọ, rét đậm, rét hại vào mùa đông.

Con người

Người Kinh sống tập trung ở đồng bằng và trung du; người Mường là cộng đồng lớn thứ hai, cư trú dày đặc ở vùng Hòa Bình cũ và các huyện miền núi phía tây Phú Thọ cũ như Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập. Ngoài ra có người Dao, Thái (đông ở Mai Châu), Mông (vùng cao Hang Kia, Pà Cò), Tày, Cao Lan, Sán Dìu (dưới chân Tam Đảo) và nhiều dân tộc khác.

Tiếng Mường gần với tiếng Việt, cùng thuộc nhóm Việt – Mường; nhiều nhà ngôn ngữ học coi tiếng Mường là tấm gương phản chiếu tiếng Việt cổ. Người Mường Hòa Bình tự phân thành các mường lớn theo câu nói quen thuộc "nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động" — Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng và Mường Động. Tiếng Việt của vùng trung du Phú Thọ có ngữ điệu riêng, dễ nhận ra với người nơi khác.

Về tín ngưỡng, nổi bật nhất là thờ cúng Hùng Vương và thờ cúng tổ tiên; mỗi làng ở Phú Thọ cũ có đình, miếu thờ các vua Hùng, tướng lĩnh, công chúa thời Hùng. Ở Vĩnh Phúc cũ có tục thờ Quốc Mẫu Tây Thiên. Phật giáo hiện diện qua các chùa làng và Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên; Công giáo có các giáo xứ lâu đời ở đồng bằng. Người Mường giữ tín ngưỡng mo, với các thầy mo đảm nhận nghi lễ tang ma và cầu cúng.

Về tính cách, người vùng đất Tổ thường được nói tới với niềm tự hào về cội nguồn, sự gắn bó với lễ nghi làng xã và tinh thần "uống nước nhớ nguồn". Người Vĩnh Phúc cũ, nhất là vùng Thổ Tang (Vĩnh Tường), có tiếng giỏi buôn bán, năng động; Vĩnh Phúc cũng thường được nhắc là vùng đất có truyền thống khoa bảng và cách mạng. Người Mường thường được mô tả là hiền hòa, mến khách, coi trọng cộng đồng và quan hệ họ hàng trong mường.

Văn hóa

Vùng đất này giữ hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh:

  • Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, ghi danh năm 2012 vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Giỗ Tổ ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch là quốc lễ, và từ năm 2007 là ngày nghỉ lễ của người lao động.
  • Hát Xoan Phú Thọ, lối hát nghi lễ ở cửa đình mùa xuân, do bốn phường xoan gốc An Thái, Phù Đức, Kim Đới và Thét ở vùng Việt Trì lưu giữ. Năm 2011 Xoan được ghi vào danh sách cần bảo vệ khẩn cấp; năm 2017 được chuyển sang danh sách đại diện — trường hợp đầu tiên trên thế giới.

Phú Thọ cũ còn nhiều lễ hội cổ gắn với thời Hùng và nghi lễ phồn thực như hội Phết Hiền Quan, trò Trám ở Tứ Xã, lễ hội đền Mẫu Âu Cơ ở Hạ Hòa. Vĩnh Phúc cũ có lễ hội chọi trâu Hải Lựu, lễ hội Tây Thiên và nhiều hội làng đồng bằng. Người Mường Hòa Bình có lễ hội Khai hạ đầu năm, mo Mường với các áng mo dài và sử thi Đẻ đất đẻ nước, nghệ thuật cồng chiêng Mường, hát ví, hát đúm và bộ váy áo với cạp váy dệt hoa văn công phu.

Về kiến trúc, đáng kể nhất là quần thể đền Hùng, các đình làng cổ ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc như đình Thổ Tang, tháp Bình Sơn thời Trần, và nhà sàn của người Mường, người Thái. Làng nghề có gốm Hương Canh (Bình Xuyên), mộc Bích Chu và Thanh Lãng, nón lá, dệt thổ cẩm Mường và Thái ở Mai Châu.

Ẩm thực tiêu biểu gồm thịt chua Thanh Sơn, bánh tai và cơm nắm lá cọ của Phú Thọ, bưởi Đoan Hùng; cá thính Lập Thạch và su su Tam Đảo của Vĩnh Phúc; cơm lam, lợn bản, rượu cần, cá sông Đà và cam Cao Phong của vùng Hòa Bình.

Nhân vật tiêu biểu

Truyền thuyết và thời phong kiến

  • Các vua Hùng — những vị vua truyền thuyết của nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, được thờ ở Đền Hùng.
  • Âu Cơ — mẹ Tổ trong truyền thuyết "con Rồng cháu Tiên", được thờ ở đền Mẫu Âu Cơ, Hạ Hòa.
  • Hai Bà Trưng (? – 43) — Trưng Trắc, Trưng Nhị, người Mê Linh, khởi nghĩa chống nhà Hán năm 40; quê hương Mê Linh từng thuộc tỉnh Vĩnh Phúc cho tới năm 2008.
  • Trần Nguyên Hãn (? – 1429) — danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, khai quốc công thần nhà Lê sơ, quê Sơn Đông, Lập Thạch.
  • Nguyễn Quang Bích (1832 – 1890) — thủ lĩnh Cần Vương ở vùng Hưng Hóa, mất trong căn cứ kháng chiến ở vùng Yên Lập.

Cận – hiện đại

  • Đội Cấn (1881 – 1918) — Trịnh Văn Cấn, người Vĩnh Tường, lãnh đạo cuộc binh biến Thái Nguyên năm 1917.
  • Nguyễn Thái Học (1902 – 1930) — người làng Thổ Tang, Vĩnh Tường, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng, bị xử chém sau khởi nghĩa Yên Bái.
  • Madeleine Colani (1866 – 1943) — nhà khảo cổ học người Pháp, người xác lập văn hóa Hòa Bình năm 1932.
  • Cù Chính Lan (1930 – 1951) — Anh hùng Lực lượng vũ trang, hy sinh trong chiến dịch Hòa Bình.
  • Kim Ngọc (1917 – 1979) — Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc rồi Vĩnh Phú, người khởi xướng khoán hộ trong nông nghiệp.
  • Nguyễn Viết Xuân (1934 – 1964) — Anh hùng Lực lượng vũ trang, người Vĩnh Tường, hy sinh khi chỉ huy trận địa pháo cao xạ.
  • Phạm Tiến Duật (1941 – 2007) — nhà thơ của Trường Sơn, quê Thanh Ba, Phú Thọ.

Kinh tế

Kinh tế tỉnh mang ba sắc thái tương ứng với ba tỉnh cũ. Vùng Vĩnh Phúc cũ là trung tâm công nghiệp chế tạo, nổi bật với lắp ráp ô tô và xe máy của các doanh nghiệp FDI ở Phúc Yên, cùng chuỗi khu công nghiệp như Khai Quang, Bá Thiện, Bình Xuyên sản xuất linh kiện điện tử và cơ khí. Vùng Phú Thọ cũ có công nghiệp truyền thống: hóa chất và phân bón (Supe phốt phát Lâm Thao), giấy (Bãi Bằng), dệt may, vật liệu xây dựng, chế biến chè, cùng các khu công nghiệp quanh Việt Trì như Thụy Vân. Vùng Hòa Bình cũ có thủy điện sông Đà, khu công nghiệp Lương Sơn gần Hà Nội và du lịch nghỉ dưỡng.

Nông nghiệp có thế mạnh về chè ở vùng trung du, bưởi Đoan Hùng, cam Cao Phong và cây ăn quả có múi ở Hòa Bình, lúa và rau màu ở đồng bằng Vĩnh Phúc, chăn nuôi, nuôi cá lồng trên hồ Hòa Bình và trồng rừng sản xuất.

Giao thông thuận lợi nhờ vị trí cửa ngõ Tây Bắc: cao tốc Nội Bài – Lào Cai chạy qua Vĩnh Phúc và Phú Thọ cũ, quốc lộ 2 nối Hà Nội – Việt Trì – Tuyên Quang, quốc lộ 6 và cao tốc Hòa Lạc – Hòa Bình dẫn lên Tây Bắc, cùng đường sắt Hà Nội – Lào Cai. Sông Hồng và sông Lô có cảng sông Việt Trì; sân bay quốc tế Nội Bài nằm ngay sát địa giới phía đông.

Du lịch

  • Khu di tích lịch sử Đền Hùng — Đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, đền Giếng và lăng Hùng Vương trên núi Nghĩa Lĩnh.1Nằm ở Xã Hy Cương
  • Đền Mẫu Âu Cơ — đền thờ mẹ Tổ ở Hạ Hòa, gắn với lễ hội đầu xuân.
  • Vườn quốc gia Xuân Sơn — rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, nhiều hang động và bản người Mường, người Dao.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Xuân Đài
  • Ao Châu — hồ tự nhiên với nhiều đảo đồi nhỏ ở Hạ Hòa.
  • Tam Đảo — thị trấn nghỉ mát trên núi, có từ đầu thế kỷ 20, trong Vườn quốc gia Tam Đảo.3Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Đạo Trù
  • Tây Thiên — quần thể đền chùa trên sườn Tam Đảo, thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, cùng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên.
  • Tháp Bình Sơn — tháp đất nung thời Trần ở Lập Thạch.
  • Hồ Đại Lải — hồ nước và khu nghỉ dưỡng ở Phúc Yên.4Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Phường Xuân Hoà
  • Thủy điện và hồ Hòa Bình — công trình trên sông Đà; trên hồ có đền Bà Chúa Thác Bờ và các bản người Dao, người Mường ven hồ.
  • Mai Châu — thung lũng của người Thái với bản Lác, bản Poom Coọng, nhà sàn và dệt thổ cẩm.5Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Mai Châu
  • Hang Kia – Pà Cò — vùng cao của người Mông, khu bảo tồn thiên nhiên.6Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Pà Cò
  • Kim Bôi — vùng suối khoáng nóng.
  • Bảo tàng Không gian văn hóa Mường — nơi trưng bày nhà sàn, cồng chiêng và đồ dùng của người Mường ở thành phố Hòa Bình cũ.

Bản đồ du lịch

6 trong 13 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.

Đang tải bản đồ…

  1. 1Khu di tích lịch sử Đền Hùng — Xã Hy Cương
  2. 2Vườn quốc gia Xuân Sơn — Xã Xuân Đài (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  3. 3Tam Đảo — Xã Đạo Trù (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  4. 4Hồ Đại Lải — Phường Xuân Hoà (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  5. 5Mai Châu — Xã Mai Châu (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  6. 6Hang Kia – Pà Cò — Xã Pà Cò (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)

Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.