Tỉnh · Trung du và miền núi phía Bắc
Thái Nguyên
Thông tin tổng quan
Địa lý
- Vùng
- Trung du và miền núi phía Bắc
- Tọa độ địa lý
- 22°04′ B, 105°49′ Đ
- Diện tích
- 8.375,5 km²Bộ Nội vụ, 2025
- Biên giới quốc gia
- Không
- Bờ biển
- Không — nằm sâu trong đất liền
Dân cư
- Dân số
- 1.799.489 ngườiBộ Nội vụ, 2025
- Mật độ dân số
- 214,9 người/km²Bộ Nội vụ, 2025
Hành chính
- Loại đơn vị
- Tỉnh
- Trung tâm hành chính
- Thái Nguyên
- Hình thành
- Hợp nhất từ Bắc Kạn, Thái Nguyên (1/7/2025)
- Đơn vị cấp xã
- 92 — gồm 15 phường, 77 xã
- Biển số xe
- 20, 97
- Đầu mã bưu chính
- 23, 24
Kinh tế
- Tăng trưởng GRDP
- —Cục Thống kê, 2025
Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.
Hình thành từ
Số liệu chính
Diện tích
8.376km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 19/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Dân số
1.799.489người
Xếp hạng toàn quốc: hạng 25/34
Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.
Mật độ dân số
215người/km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 22/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Số đơn vị cấp xã
92đơn vị
Xếp hạng toàn quốc: hạng 23/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Xếp hạng theo dân số
Phường, xã và đặc khu
Thái Nguyên có 92 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.
- Bắc Kạn37
- Thái Nguyên55
Đang tải bản đồ…
Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.
Hiển thị 92/92
| Tên | Loại | Thuộc tỉnh cũ | Diện tích (km²) | Mã bưu chính | Mã ĐVHC |
|---|---|---|---|---|---|
| An Khánh | Xã | Thái Nguyên | 45,1 | ||
| Ba Bể | Xã | Bắc Kạn | 148,1 | ||
| Bá Xuyên | Phường | Thái Nguyên | 21,1 | ||
| Bách Quang | Phường | Thái Nguyên | 35 | ||
| Bạch Thông | Xã | Bắc Kạn | 127,8 | ||
| Bắc Kạn | Phường | Bắc Kạn | 72 | ||
| Bằng Thành | Xã | Bắc Kạn | 208,2 | ||
| Bằng Vân | Xã | Bắc Kạn | 133 | ||
| Bình Thành | Xã | Thái Nguyên | 43,3 | ||
| Bình Yên | Xã | Thái Nguyên | 48,4 | ||
| Cao Minh | Xã | Bắc Kạn | 134,9 | ||
| Cẩm Giàng | Xã | Bắc Kạn | 110,8 | ||
| Chợ Đồn | Xã | Bắc Kạn | 142,1 | ||
| Chợ Mới | Xã | Bắc Kạn | 119 | ||
| Chợ Rã | Xã | Bắc Kạn | 92,8 | ||
| Côn Minh | Xã | Bắc Kạn | 146,3 | ||
| Cường Lợi | Xã | Bắc Kạn | 117,9 | ||
| Dân Tiến | Xã | Thái Nguyên | 144,3 | ||
| Đại Phúc | Xã | Thái Nguyên | 107,5 | ||
| Đại Từ | Xã | Thái Nguyên | 69,4 | ||
| Điềm Thuỵ | Xã | Thái Nguyên | 42 | ||
| Định Hoá | Xã | Thái Nguyên | 67,3 | ||
| Đồng Hỷ | Xã | Thái Nguyên | 53,7 | ||
| Đồng Phúc | Xã | Bắc Kạn | 199,1 | ||
| Đức Lương | Xã | Thái Nguyên | 60,9 | ||
| Đức Xuân | Phường | Bắc Kạn | 34,5 | ||
| Gia Sàng | Phường | Thái Nguyên | 25,5 | ||
| Hiệp Lực | Xã | Bắc Kạn | 105 | ||
| Hợp Thành | Xã | Thái Nguyên | 41,2 | ||
| Kha Sơn | Xã | Thái Nguyên | 37,9 | ||
| Kim Phượng | Xã | Thái Nguyên | 78,6 | ||
| La Bằng | Xã | Thái Nguyên | 60,8 | ||
| La Hiên | Xã | Thái Nguyên | 71,6 | ||
| Lam Vỹ | Xã | Thái Nguyên | 71,4 | ||
| Linh Sơn | Phường | Thái Nguyên | 39,3 | ||
| Nà Phặc | Xã | Bắc Kạn | 101,2 | ||
| Na Rì | Xã | Bắc Kạn | 112,7 | ||
| Nam Cường | Xã | Bắc Kạn | 149,7 | ||
| Nam Hoà | Xã | Thái Nguyên | 65 | ||
| Ngân Sơn | Xã | Bắc Kạn | 145,6 | ||
| Nghĩa Tá | Xã | Bắc Kạn | 166,9 | ||
| Nghiên Loan | Xã | Bắc Kạn | 130,3 | ||
| Nghinh Tường | Xã | Thái Nguyên | 160,7 | ||
| Phan Đình Phùng | Phường | Thái Nguyên | 14,7 | ||
| Phong Quang | Xã | Bắc Kạn | 153,5 | ||
| Phổ Yên | Phường | Thái Nguyên | 40,7 | ||
| Phú Bình | Xã | Thái Nguyên | 44,2 | ||
| Phú Đình | Xã | Thái Nguyên | 47,9 | ||
| Phú Lạc | Xã | Thái Nguyên | 58,1 | ||
| Phú Lương | Xã | Thái Nguyên | 112,4 | ||
| Phú Thịnh | Xã | Thái Nguyên | 45,4 | ||
| Phủ Thông | Xã | Bắc Kạn | 96,9 | ||
| Phú Xuyên | Xã | Thái Nguyên | 64,6 | ||
| Phúc Lộc | Xã | Bắc Kạn | 163,1 | ||
| Phúc Thuận | Phường | Thái Nguyên | 74,2 | ||
| Phượng Tiến | Xã | Thái Nguyên | 102,7 | ||
| Quan Triều | Phường | Thái Nguyên | 24,7 | ||
| Quảng Bạch | Xã | Bắc Kạn | 75,2 | ||
| Quang Sơn | Xã | Thái Nguyên | 58,6 | ||
| Quân Chu | Xã | Thái Nguyên | 79,4 | ||
| Quyết Thắng | Phường | Thái Nguyên | 24,4 | ||
| Sảng Mộc | Xã | Thái Nguyên | 96,8 | ||
| Sông Công | Phường | Thái Nguyên | 14 | ||
| Tân Cương | Xã | Thái Nguyên | 57,9 | ||
| Tân Khánh | Xã | Thái Nguyên | 48,3 | ||
| Tân Kỳ | Xã | Bắc Kạn | 167,8 | ||
| Tân Thành | Xã | Thái Nguyên | 69 | ||
| Thành Công | Xã | Thái Nguyên | 43,5 | ||
| Thanh Mai | Xã | Bắc Kạn | 111,1 | ||
| Thanh Thịnh | Xã | Bắc Kạn | 112,3 | ||
| Thần Sa | Xã | Thái Nguyên | 146,1 | ||
| Thượng Minh | Xã | Bắc Kạn | 131,6 | ||
| Thượng Quan | Xã | Bắc Kạn | 154,9 | ||
| Tích Lương | Phường | Thái Nguyên | 23,6 | ||
| Trại Cau | Xã | Thái Nguyên | 82,9 | ||
| Tràng Xá | Xã | Thái Nguyên | 119,2 | ||
| Trần Phú | Xã | Bắc Kạn | 145,3 | ||
| Trung Hội | Xã | Thái Nguyên | 54,2 | ||
| Trung Thành | Phường | Thái Nguyên | 25,8 | ||
| Vạn Phú | Xã | Thái Nguyên | 51,2 | ||
| Vạn Xuân | Phường | Thái Nguyên | 40,2 | ||
| Văn Hán | Xã | Thái Nguyên | 96,3 | ||
| Văn Lang | Xã | Bắc Kạn | 171,6 | ||
| Văn Lăng | Xã | Thái Nguyên | 75,3 | ||
| Vĩnh Thông | Xã | Bắc Kạn | 129,6 | ||
| Võ Nhai | Xã | Thái Nguyên | 99,8 | ||
| Vô Tranh | Xã | Thái Nguyên | 83,5 | ||
| Xuân Dương | Xã | Bắc Kạn | 160,2 | ||
| Yên Bình | Xã | Bắc Kạn | 100,7 | ||
| Yên Phong | Xã | Bắc Kạn | 116 | ||
| Yên Thịnh | Xã | Bắc Kạn | 165,8 | ||
| Yên Trạch | Xã | Thái Nguyên | 112,7 |
Tổng quan
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, nằm ở phía bắc Hà Nội, trải từ vùng trung du sông Cầu, sông Công lên tới vùng núi hồ Ba Bể. Tỉnh hiện nay được thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn; tên Thái Nguyên được giữ lại và trung tâm hành chính đặt tại Thái Nguyên.
Vùng đất này là trung tâm của chiến khu Việt Bắc và An toàn khu (ATK) trong kháng chiến chống Pháp, với ATK Định Hóa và ATK Chợ Đồn. Thái Nguyên được biết đến là đất chè với chè Tân Cương, là "cái nôi" của ngành gang thép Việt Nam, một trung tâm đại học của miền núi phía Bắc và từ những năm 2010 là một trung tâm công nghiệp điện tử lớn. Phía bắc là vùng núi của người Tày, Nùng, Dao, Mông quanh hồ Ba Bể, hồ nước ngọt tự nhiên trên núi lớn nhất Việt Nam.
Lịch sử
Thời tiền sử và phong kiến
Ở Võ Nhai, các di chỉ Thần Sa và mái đá Ngườm cho thấy con người đã sống ở vùng núi đá vôi này từ thời đồ đá cũ; văn hóa Thần Sa là một trong những văn hóa khảo cổ tiêu biểu của thời kỳ này ở Việt Nam.
Thời Lý, vùng thượng du sông Cầu do các tù trưởng người Tày cai quản. Dương Tự Minh, thủ lĩnh vùng Phú Lương, được nhà Lý gả công chúa và giao trấn giữ biên giới phía bắc; ông được thờ ở đền Đuổm. Thời Lê sơ, Thái Nguyên là một trong các đạo thừa tuyên của Đại Việt. Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Lưu Nhân Chú, người Thái Nguyên, là một trong những người dự hội thề Lũng Nhai và trở thành công thần khai quốc nhà Lê. Năm 1831, vua Minh Mạng đặt tỉnh Thái Nguyên, bao gồm cả vùng Bắc Kạn ngày nay.
Thời Pháp thuộc
Người Pháp chiếm Thái Nguyên trong những năm 1880. Năm 1900, họ tách vùng phía bắc lập tỉnh Bắc Kạn. Đêm 30/8/1917, binh lính người Việt trong trại lính khố xanh Thái Nguyên, do Trịnh Văn Cấn (Đội Cấn) chỉ huy cùng với chính trị phạm Lương Ngọc Quyến, nổi dậy chiếm thị xã, phá nhà lao và giữ thành trong nhiều ngày — cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, một trong những cuộc binh biến lớn nhất thời Pháp thuộc.
Đầu những năm 1940, vùng Võ Nhai trở thành căn cứ của Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, nối với căn cứ Bắc Sơn. Năm 1941, nhà cách mạng Phùng Chí Kiên hy sinh trên đất Bắc Kạn. Tháng 8/1945, Việt Nam Giải phóng quân từ Tân Trào tiến đánh quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên trên đường về Hà Nội.
Kháng chiến chống Pháp
Trong kháng chiến chống Pháp, Thái Nguyên và Bắc Kạn là trái tim của chiến khu Việt Bắc. ATK Định Hóa là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ làm việc trong nhiều năm; ATK Chợ Đồn ở Bắc Kạn là nơi đặt nhiều cơ quan Trung ương. Tháng 10/1947, mở đầu chiến dịch Việt Bắc, quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn với ý định bắt cơ quan đầu não kháng chiến, nhưng thất bại. Ngày 6/12/1953, tại lán Tỉn Keo (Định Hóa), Bộ Chính trị họp và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Từ Khu tự trị Việt Bắc đến tỉnh Bắc Thái
Từ năm 1956 đến 1975, Thái Nguyên và Bắc Kạn thuộc Khu tự trị Việt Bắc, với Thái Nguyên là nơi đặt cơ quan của khu. Thị xã Thái Nguyên lên thành phố năm 1962. Năm 1959, Khu gang thép Thái Nguyên khởi công — tổ hợp luyện kim khép kín đầu tiên của Việt Nam — và năm 1963 ra mẻ gang đầu tiên. Trong chiến tranh chống Mỹ, khu công nghiệp này là mục tiêu của các đợt ném bom.
Năm 1965, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái, tỉnh lỵ ở thành phố Thái Nguyên. Năm 1996, Quốc hội quyết định chia Bắc Thái thành hai tỉnh, có hiệu lực từ ngày 1/1/1997. Năm 1994, Đại học Thái Nguyên được thành lập.
Thái Nguyên cũ và Bắc Kạn cũ trước năm 2025
Thái Nguyên cũ là tỉnh trung du – miền núi ngay phía bắc Hà Nội, với thành phố Thái Nguyên, các thành phố Sông Công, Phổ Yên, vùng chè Tân Cương, ATK Định Hóa và các khu công nghiệp điện tử. Từ năm 2013, tổ hợp nhà máy điện thoại di động ở Yên Bình đưa Thái Nguyên trở thành một trung tâm công nghiệp điện tử của cả nước. Bắc Kạn cũ là tỉnh miền núi người Tày, với hồ Ba Bể, ATK Chợ Đồn, thành phố Bắc Kạn (từ năm 2015). Năm 2024, bão Yagi gây lũ lớn trên sông Cầu, làm ngập nặng thành phố Thái Nguyên. Mỗi tỉnh có trang riêng trong phần các đơn vị trước năm 2025.
Sáp nhập năm 2025
Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn hợp nhất thành tỉnh Thái Nguyên — về cơ bản là sự trở lại của tỉnh Bắc Thái cũ dưới tên Thái Nguyên. Tên gọi và trung tâm chính trị – hành chính đặt tại Thái Nguyên. Cấp huyện bị bãi bỏ; chính quyền địa phương còn hai cấp tỉnh và xã, phường. Biển số xe 20 (Thái Nguyên) và 97 (Bắc Kạn) đều thuộc tỉnh mới.
Địa lý
Tỉnh phía bắc giáp Cao Bằng, phía đông giáp Lạng Sơn, phía đông nam giáp Bắc Ninh, phía nam giáp Hà Nội, phía tây nam giáp Phú Thọ, phía tây giáp Tuyên Quang. Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam: vùng núi cao Bắc Kạn với các dãy Ngân Sơn, Phia Bjoóc; vùng núi đá vôi Ba Bể, Võ Nhai; vùng đồi trung du ở giữa; vùng đồng bằng ven sông Cầu ở phía nam. Dãy Tam Đảo chạy dọc ranh giới phía tây nam.
Sông Cầu bắt nguồn từ vùng núi Bắc Kạn, chảy qua thành phố Thái Nguyên xuống Bắc Ninh; sông Công chảy qua Đại Từ, Sông Công, Phổ Yên và được ngăn đập tạo thành hồ Núi Cốc; sông Năng chảy qua hồ Ba Bể và hang Puông. Hồ Ba Bể gồm ba nhánh hồ thông nhau giữa núi đá vôi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, vùng núi cao Bắc Kạn lạnh hơn.
Các khu bảo vệ thiên nhiên gồm Vườn quốc gia Ba Bể — được công nhận là vùng đất ngập nước Ramsar năm 2011 và là Vườn di sản ASEAN — một phần Vườn quốc gia Tam Đảo, khu bảo tồn Kim Hỷ, khu bảo tồn Thần Sa – Phượng Hoàng. Thiên tai thường gặp là lũ trên sông Cầu, lũ quét và sạt lở đất ở vùng núi.
Con người
Cùng với người Kinh là các cộng đồng Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Mông, Hoa. Người Tày là dân tộc đông nhất ở Bắc Kạn cũ và ở các huyện phía bắc Thái Nguyên cũ như Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai; người Sán Dìu sống ở vùng trung du phía nam; người Dao, Mông ở vùng núi cao. Người Kinh tập trung ở các đô thị và vùng trung du, nhiều người lên đây trong các đợt xây dựng khu gang thép, mỏ than, nông trường chè từ những năm 1950 – 1960.
Tín ngưỡng gồm thờ cúng tổ tiên, thờ thần, nghi lễ Then của người Tày, Nùng, lễ cấp sắc của người Dao, cùng các chùa, đền của người Kinh như chùa Hang, đền Đuổm.
Người Thái Nguyên thường được miêu tả là chân chất, cần cù, mến khách; câu nói "Chè Thái, gái Tuyên" cho thấy tiếng tăm lâu đời của chè Thái Nguyên. Thành phố Thái Nguyên, với nhiều trường đại học, được coi là nơi hội tụ học sinh, sinh viên từ khắp miền núi phía Bắc. Người Tày Bắc Kạn thường được nói đến là hiền hòa, trọng khách, gắn bó với tiếng hát Then, đàn tính.
Văn hóa
Lễ hội và di sản
Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái, được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2019, có mặt sâu rộng trong đời sống người Tày ở Bắc Kạn và Định Hóa; hát Then thường đi cùng tiếng đàn tính. Người Tày còn có hát lượn, người Nùng có hát sli, người Sán Dìu có hát soọng cô. Lễ hội Lồng tồng (xuống đồng) đầu xuân được tổ chức ở nhiều nơi, trong đó có ATK Định Hóa và Ba Bể. Lễ hội đền Đuổm tưởng niệm Dương Tự Minh, và lễ hội chùa Hang là những lễ hội lớn của Thái Nguyên cũ.
Kiến trúc, bảo tàng và nghề
Nhà sàn của người Tày ở Pác Ngòi (Ba Bể), Định Hóa là kiểu kiến trúc tiêu biểu. Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam ở thành phố Thái Nguyên lưu giữ hiện vật của nhiều dân tộc trong cả nước. Nghề trồng và sao chè thủ công ở Tân Cương, La Bằng, Trại Cài được truyền qua nhiều thế hệ; nghề dệt thổ cẩm của người Tày, Dao vẫn được duy trì ở vùng núi.
Ẩm thực
Đặc sản nổi tiếng nhất là chè Tân Cương, được nhiều người coi là "đệ nhất danh trà". Ẩm thực còn có bánh chưng Bờ Đậu, cơm lam, bánh cooc mò, khau nhục, cá nướng hồ Ba Bể, miến dong Bắc Kạn, cùng các nông sản như hồng không hạt và quýt Bắc Kạn.
Nhân vật tiêu biểu
Thời phong kiến
- Dương Tự Minh (thế kỷ 12) — thủ lĩnh người Tày vùng Phú Lương thời Lý, phò mã nhà Lý, trấn giữ biên giới phía bắc; được thờ ở đền Đuổm.
- Lưu Nhân Chú (mất 1433) — người Thái Nguyên, dự hội thề Lũng Nhai, công thần khai quốc nhà Lê.
Cận – hiện đại
- Lương Ngọc Quyến (mất 1917) — nhà yêu nước, con trai cụ Lương Văn Can, cùng Đội Cấn lãnh đạo khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 và hy sinh trong cuộc khởi nghĩa.
- Trịnh Văn Cấn (mất 1918) — tức Đội Cấn, người chỉ huy binh lính khố xanh nổi dậy trong khởi nghĩa Thái Nguyên.
- Chu Văn Tấn (1910–1984) — người Nùng ở Võ Nhai, chỉ huy Cứu quốc quân, sau là thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Phùng Chí Kiên (1901–1941) — nhà cách mạng, hy sinh trên đất Bắc Kạn năm 1941.
- Hồ Chí Minh (1890–1969) — sống và làm việc nhiều năm ở ATK Định Hóa, nơi Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Nông Quốc Chấn (1923–2002) — nhà thơ người Tày quê Bắc Kạn, một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca dân tộc thiểu số.
- Nông Đức Mạnh (sinh 1940) — người Tày quê Na Rì, Bắc Kạn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 2001 đến 2011.
Kinh tế
Thái Nguyên là thủ phủ chè Việt Nam: chè Tân Cương có chỉ dẫn địa lý, và các vùng chè trải khắp Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa, Đồng Hỷ. Bên cạnh đó là công nghiệp nặng truyền thống — gang thép, khai thác than, mỏ đa kim Núi Pháo (Đại Từ) — và từ năm 2013 là công nghiệp điện tử với tổ hợp nhà máy điện thoại di động ở khu công nghiệp Yên Bình, biến điện tử thành ngành xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Các khu công nghiệp Yên Bình, Điềm Thụy, Sông Công tập trung ở phía nam, gần Hà Nội.
Vùng Bắc Kạn cũ có kinh tế chủ yếu là nông – lâm nghiệp, trồng rừng, cây ăn quả, miến dong, chăn nuôi, khai thác khoáng sản như chì kẽm ở Chợ Đồn, và du lịch hồ Ba Bể. Giáo dục đại học, với Đại học Thái Nguyên, và y tế là những ngành dịch vụ quan trọng của cả vùng.
Giao thông có quốc lộ 3 — trục chính từ Hà Nội qua Thái Nguyên lên Bắc Kạn và Cao Bằng — cùng cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên và cao tốc Thái Nguyên – Chợ Mới; tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều phục vụ khu gang thép. Vị trí gần sân bay Nội Bài là lợi thế lớn cho các khu công nghiệp phía nam.
Du lịch
- Hồ Ba Bể — Hồ nước ngọt tự nhiên trên núi lớn nhất Việt Nam, trong vườn quốc gia cùng tên, vùng đất ngập nước Ramsar.1Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Ba Bể
- Động Puông và thác Đầu Đẳng — Hang xuyên núi và thác nước trên sông Năng gần hồ Ba Bể.
- ATK Định Hóa — Lán Tỉn Keo, đồi Khau Tý, nơi Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
- ATK Chợ Đồn — Di tích các cơ quan Trung ương thời kháng chiến chống Pháp.
- Hồ Núi Cốc — Hồ nhân tạo gắn với truyền thuyết chàng Cốc – nàng Công.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Vạn Phú
- Vùng chè Tân Cương — Đồi chè bát úp bên sông Công.
- Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam — Bảo tàng dân tộc học lớn ở thành phố Thái Nguyên.
- Đền Đuổm — Đền thờ Dương Tự Minh ở Phú Lương.
- Chùa Hang — Ngôi chùa trong hang núi đá vôi ở Đồng Hỷ.
- Hang Phượng Hoàng – suối Mỏ Gà — Hang động và suối ngầm ở Võ Nhai.
- Hồ Nặm Cắt — Hồ nhỏ giữa đồi núi gần trung tâm Bắc Kạn cũ.
Bản đồ du lịch
2 trong 11 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.
Đang tải bản đồ…
- 1Hồ Ba Bể — Xã Ba Bể (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 2Hồ Núi Cốc — Xã Vạn Phú (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.