Tỉnh · Trung du và miền núi phía Bắc
Lào Cai
Thông tin tổng quan
Địa lý
- Vùng
- Trung du và miền núi phía Bắc
- Tọa độ địa lý
- 22°02′ B, 104°19′ Đ
- Diện tích
- 13.256,4 km²Bộ Nội vụ, 2025
- Giáp ranh
- Biên giới quốc gia
- Trung Quốc
- Bờ biển
- Không — nằm sâu trong đất liền
Dân cư
- Dân số
- 1.770.645 ngườiBộ Nội vụ, 2025
- Mật độ dân số
- 133,6 người/km²Bộ Nội vụ, 2025
Hành chính
- Loại đơn vị
- Tỉnh
- Trung tâm hành chính
- Yên Bái
- Hình thành
- Hợp nhất từ Lào Cai, Yên Bái (1/7/2025)
- Đơn vị cấp xã
- 99 — gồm 10 phường, 89 xã
- Biển số xe
- 21, 24
- Đầu mã bưu chính
- 31, 33
Kinh tế
- Tăng trưởng GRDP
- —Cục Thống kê, 2025
Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.
Hình thành từ
Số liệu chính
Diện tích
13.256km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 8/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Dân số
1.770.645người
Xếp hạng toàn quốc: hạng 26/34
Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.
Mật độ dân số
134người/km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 29/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Số đơn vị cấp xã
99đơn vị
Xếp hạng toàn quốc: hạng 17/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Xếp hạng theo dân số
Phường, xã và đặc khu
Lào Cai có 99 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.
- Lào Cai48
- Yên Bái51
Đang tải bản đồ…
Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.
Hiển thị 99/99
| Tên | Loại | Thuộc tỉnh cũ | Diện tích (km²) | Mã bưu chính | Mã ĐVHC |
|---|---|---|---|---|---|
| A Mú Sung | Xã | Lào Cai | 104,4 | ||
| Âu Lâu | Phường | Yên Bái | 66,2 | ||
| Bản Hồ | Xã | Lào Cai | 166,2 | ||
| Bản Lầu | Xã | Lào Cai | 125,3 | ||
| Bản Liền | Xã | Lào Cai | 76,7 | ||
| Bản Xèo | Xã | Lào Cai | 78,3 | ||
| Bảo Ái | Xã | Yên Bái | 163,4 | ||
| Bảo Hà | Xã | Lào Cai | 243 | ||
| Bảo Nhai | Xã | Lào Cai | 156 | ||
| Bảo Thắng | Xã | Lào Cai | 160,4 | ||
| Bảo Yên | Xã | Lào Cai | 119,1 | ||
| Bát Xát | Xã | Lào Cai | 190 | ||
| Bắc Hà | Xã | Lào Cai | 179,7 | ||
| Cam Đường | Phường | Lào Cai | 59,9 | ||
| Cảm Nhân | Xã | Yên Bái | 151,8 | ||
| Cao Sơn | Xã | Lào Cai | 164,5 | ||
| Cát Thịnh | Xã | Yên Bái | 169,1 | ||
| Cầu Thia | Phường | Yên Bái | 31,8 | ||
| Chấn Thịnh | Xã | Yên Bái | 120,5 | ||
| Châu Quế | Xã | Yên Bái | 162,3 | ||
| Chế Tạo | Xã | Yên Bái | 234,4 | ||
| Chiềng Ken | Xã | Lào Cai | 191,3 | ||
| Cốc Lầu | Xã | Lào Cai | 135,8 | ||
| Cốc San | Xã | Lào Cai | 57,2 | ||
| Dền Sáng | Xã | Lào Cai | 148,2 | ||
| Dương Quỳ | Xã | Lào Cai | 157,1 | ||
| Đông Cuông | Xã | Yên Bái | 146,3 | ||
| Gia Hội | Xã | Yên Bái | 213,3 | ||
| Gia Phú | Xã | Lào Cai | 102,4 | ||
| Hạnh Phúc | Xã | Yên Bái | 193,9 | ||
| Hợp Thành | Xã | Lào Cai | 116,3 | ||
| Hưng Khánh | Xã | Yên Bái | 122,2 | ||
| Khánh Hoà | Xã | Yên Bái | 149,8 | ||
| Khánh Yên | Xã | Lào Cai | 173,6 | ||
| Khao Mang | Xã | Yên Bái | 120,1 | ||
| Lào Cai | Phường | Lào Cai | 72,3 | ||
| Lao Chải | Xã | Yên Bái | 158 | ||
| Lâm Giang | Xã | Yên Bái | 179,5 | ||
| Lâm Thượng | Xã | Yên Bái | 128 | ||
| Liên Sơn | Xã | Yên Bái | 23,6 | ||
| Lục Yên | Xã | Yên Bái | 79,9 | ||
| Lùng Phình | Xã | Lào Cai | 101 | ||
| Lương Thịnh | Xã | Yên Bái | 94,2 | ||
| Mậu A | Xã | Yên Bái | 144,5 | ||
| Minh Lương | Xã | Lào Cai | 206,6 | ||
| Mỏ Vàng | Xã | Yên Bái | 167,6 | ||
| Mù Cang Chải | Xã | Yên Bái | 147 | ||
| Mường Bo | Xã | Lào Cai | 148,3 | ||
| Mường Hum | Xã | Lào Cai | 212,8 | ||
| Mường Khương | Xã | Lào Cai | 169,2 | ||
| Mường Lai | Xã | Yên Bái | 143,8 | ||
| Nam Cường | Phường | Yên Bái | 46,1 | ||
| Nậm Chày | Xã | Lào Cai | 142,1 | ||
| Nậm Có | Xã | Yên Bái | 201,6 | ||
| Nậm Xé | Xã | Lào Cai | 171 | ||
| Nghĩa Đô | Xã | Lào Cai | 159,4 | ||
| Nghĩa Lộ | Phường | Yên Bái | 29,9 | ||
| Nghĩa Tâm | Xã | Yên Bái | 133,1 | ||
| Ngũ Chỉ Sơn | Xã | Lào Cai | 82,5 | ||
| Pha Long | Xã | Lào Cai | 105,6 | ||
| Phình Hồ | Xã | Yên Bái | 226 | ||
| Phong Dụ Hạ | Xã | Yên Bái | 138,4 | ||
| Phong Dụ Thượng | Xã | Yên Bái | 195,2 | ||
| Phong Hải | Xã | Lào Cai | 120,9 | ||
| Phúc Khánh | Xã | Lào Cai | 114 | ||
| Phúc Lợi | Xã | Yên Bái | 160,7 | ||
| Púng Luông | Xã | Yên Bái | 253,2 | ||
| Quy Mông | Xã | Yên Bái | 149,2 | ||
| Sa Pa | Phường | Lào Cai | 54,6 | ||
| Si Ma Cai | Xã | Lào Cai | 109 | ||
| Sín Chéng | Xã | Lào Cai | 88 | ||
| Sơn Lương | Xã | Yên Bái | 123,8 | ||
| Tả Củ Tỷ | Xã | Lào Cai | 69,3 | ||
| Tả Phìn | Xã | Lào Cai | 74,7 | ||
| Tả Van | Xã | Lào Cai | 158,5 | ||
| Tà Xi Láng | Xã | Yên Bái | 88,5 | ||
| Tằng Loỏng | Xã | Lào Cai | 125,8 | ||
| Tân Hợp | Xã | Yên Bái | 200,5 | ||
| Tân Lĩnh | Xã | Yên Bái | 147,8 | ||
| Thác Bà | Xã | Yên Bái | 142,5 | ||
| Thượng Bằng La | Xã | Yên Bái | 111,6 | ||
| Thượng Hà | Xã | Lào Cai | 143,8 | ||
| Trạm Tấu | Xã | Yên Bái | 238,3 | ||
| Trấn Yên | Xã | Yên Bái | 110,7 | ||
| Trịnh Tường | Xã | Lào Cai | 146,6 | ||
| Trung Tâm | Phường | Yên Bái | 43,2 | ||
| Tú Lệ | Xã | Yên Bái | 115,4 | ||
| Văn Bàn | Xã | Lào Cai | 156,7 | ||
| Văn Chấn | Xã | Yên Bái | 140,2 | ||
| Văn Phú | Phường | Yên Bái | 51,5 | ||
| Việt Hồng | Xã | Yên Bái | 101,4 | ||
| Võ Lao | Xã | Lào Cai | 152,8 | ||
| Xuân Ái | Xã | Yên Bái | 123,9 | ||
| Xuân Hoà | Xã | Lào Cai | 107,8 | ||
| Xuân Quang | Xã | Lào Cai | 137,7 | ||
| Y Tý | Xã | Lào Cai | 127,6 | ||
| Yên Bái | Phường | Yên Bái | 16,9 | ||
| Yên Bình | Xã | Yên Bái | 150,8 | ||
| Yên Thành | Xã | Yên Bái | 141,3 |
Tổng quan
Lào Cai là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, nằm ở thượng nguồn sông Hồng, nơi con sông chảy vào Việt Nam từ Vân Nam (Trung Quốc). Tỉnh hiện nay được thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái; tên Lào Cai được giữ lại, còn trung tâm hành chính đặt tại Yên Bái.
Vùng đất này bao trùm dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Fansipan, "nóc nhà Đông Dương", thị xã nghỉ dưỡng Sa Pa, ruộng bậc thang Mù Cang Chải, cánh đồng Mường Lò của người Thái và hồ Thác Bà. Đây là cửa ngõ giao thương với Vân Nam qua cửa khẩu Lào Cai, nơi có mỏ apatit lớn nhất cả nước, vùng quế Văn Yên, chè Shan tuyết Suối Giàng, và cũng là nơi diễn ra Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.
Lịch sử
Thời cổ và phong kiến
Lưu vực sông Hồng ở vùng này có dấu vết cư trú từ rất sớm. Thạp đồng Đào Thịnh, phát hiện năm 1961 ở Trấn Yên (Yên Bái cũ), là một hiện vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn và đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Ở thung lũng Mường Hoa (Sa Pa), bãi đá cổ với nhiều tảng đá khắc hình vẽ và ký hiệu là di tích khảo cổ chưa được giải mã đầy đủ.
Trong các triều đại phong kiến, vùng đất này là miền biên viễn do các thủ lĩnh địa phương người Tày, Thái, Giáy cai quản, thuộc trấn (sau là tỉnh) Hưng Hóa. Tên Lào Cai thường được giải thích là đọc chệch từ "Lão Nhai" — "phố cũ" — tên gọi của khu chợ phố ven sông Hồng. Nửa sau thế kỷ 19, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc chiếm giữ vùng Lào Cai, thu thuế trên đường sông, rồi sau đó phối hợp với triều Nguyễn đánh Pháp ở Bắc Kỳ.
Thời Pháp thuộc
Người Pháp đặt bộ máy cai trị dần dần ở vùng thượng du. Tỉnh Yên Bái được thành lập năm 1900, tỉnh Lào Cai năm 1907. Tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai hoàn thành đến Lào Cai năm 1906 và nối tới Côn Minh năm 1910, biến Lào Cai thành cửa ngõ của Vân Nam ra biển. Từ đầu thế kỷ 20, người Pháp xây dựng Sa Pa thành một trạm nghỉ mát trên cao nguyên, với biệt thự, nhà thờ đá và đường lên núi.
Đêm 9 rạng sáng 10/2/1930, Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức Khởi nghĩa Yên Bái, binh lính người Việt trong trại lính Pháp nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa thất bại nhanh chóng; ngày 17/6/1930, Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí bị xử chém tại Yên Bái, để lại câu nói "Không thành công cũng thành nhân". Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Thái Học nằm trong công viên Yên Hòa, giữa thành phố Yên Bái.
Kháng chiến chống Pháp
Sau Cách mạng tháng Tám, vùng này là chiến trường giằng co. Cuối năm 1950, Lào Cai được giải phóng. Năm 1952, trong Chiến dịch Tây Bắc, quân đội Việt Nam giải phóng Nghĩa Lộ, mở đường lên Tây Bắc. Trước năm 1976, vùng Mường Lò thuộc tỉnh Nghĩa Lộ, một đơn vị hành chính riêng của vùng Tây Bắc.
Hoàng Liên Sơn và sự chia tách
Năm 1976, ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Nghĩa Lộ hợp nhất thành tỉnh Hoàng Liên Sơn, tỉnh lỵ đặt tại Yên Bái. Tháng 2/1979, cuộc tấn công của Trung Quốc vào biên giới phía Bắc tàn phá nặng nề thị xã Lào Cai và các huyện biên giới. Năm 1991, Hoàng Liên Sơn được chia thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Trong thời kỳ Hoàng Liên Sơn, nhà máy thủy điện Thác Bà — nhà máy thủy điện lớn đầu tiên của miền Bắc, hoàn thành năm 1971 — đã đi vào hoạt động.
Lào Cai cũ và Yên Bái cũ trước năm 2025
Lào Cai cũ là tỉnh biên giới với Vân Nam, gồm thành phố Lào Cai bên ngã ba sông Hồng – sông Nậm Thi, thị xã Sa Pa, vùng cao Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Bát Xát; thành phố Lào Cai được thành lập năm 2004, Sa Pa lên thị xã năm 2019. Yên Bái cũ là tỉnh nằm giữa vùng Tây Bắc và Đông Bắc, gồm thành phố Yên Bái (từ năm 2002), thị xã Nghĩa Lộ, vùng cao Mù Cang Chải, Trạm Tấu và hồ Thác Bà. Năm 2024, bão Yagi gây lũ quét và sạt lở nghiêm trọng ở cả hai tỉnh, trong đó có thảm họa lũ quét ở Làng Nủ (Bảo Yên, Lào Cai). Mỗi tỉnh có trang riêng trong phần các đơn vị trước năm 2025.
Sáp nhập năm 2025
Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái hợp nhất thành tỉnh Lào Cai. Tên Lào Cai được giữ lại, nhưng trung tâm chính trị – hành chính đặt tại Yên Bái, nơi từng là tỉnh lỵ của Hoàng Liên Sơn. Cấp huyện bị bãi bỏ; chính quyền địa phương còn hai cấp tỉnh và xã, phường. Biển số xe 24 (Lào Cai) và 21 (Yên Bái) đều thuộc tỉnh mới.
Địa lý
Tỉnh phía bắc giáp Vân Nam (Trung Quốc), phía đông giáp Tuyên Quang, phía nam giáp Phú Thọ, phía tây giáp Lai Châu và Sơn La. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi chạy theo hướng tây bắc – đông nam: Hoàng Liên Sơn với Fansipan và nhiều đỉnh cao khác, dãy Pú Luông ở Mù Cang Chải – Trạm Tấu, dãy Con Voi giữa sông Hồng và sông Chảy. Giữa các dãy núi là thung lũng sông Hồng, thung lũng Mường Hoa, cánh đồng Mường Lò và Tú Lệ.
Sông Hồng chảy suốt chiều dài tỉnh từ cửa khẩu Lào Cai về Yên Bái; sông Chảy chảy qua Bắc Hà, Lục Yên, Yên Bình và được ngăn đập tạo thành hồ Thác Bà, một hồ nhân tạo lớn; ngoài ra còn sông Nậm Thi, sông Nậm Mu và nhiều suối lớn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng thay đổi mạnh theo độ cao: vùng thấp nóng ẩm, trong khi Sa Pa, Y Tý, Mù Cang Chải mát quanh năm, mùa đông có băng giá và đôi khi có tuyết.
Các khu bảo vệ thiên nhiên chính gồm Vườn quốc gia Hoàng Liên, khu bảo tồn Bát Xát, khu bảo tồn Nà Hẩu (Văn Yên), và khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải, nơi có quần thể vượn đen tuyền. Thiên tai thường gặp là lũ quét, lũ ống, sạt lở đất trong mùa mưa và rét hại, băng giá trên núi cao.
Con người
Tỉnh có thành phần dân tộc rất đa dạng. Người Kinh tập trung ở các đô thị và dọc thung lũng sông Hồng; người Tày ở vùng thấp Bảo Yên, Văn Bàn, Lục Yên; người Thái ở Mường Lò, Văn Chấn, Tú Lệ; người Mông ở vùng cao Bắc Hà, Si Ma Cai, Sa Pa, Mù Cang Chải, Trạm Tấu; người Dao với nhóm Dao đỏ nổi tiếng ở Sa Pa; cùng người Giáy, Nùng, Hà Nhì, Phù Lá, Bố Y, Mường, Khơ Mú và nhiều dân tộc khác. Người Kinh di cư lên đây qua nhiều đợt, đặc biệt là từ những năm 1960 khi xây dựng các nông trường, mỏ và khu kinh tế mới.
Đời sống tín ngưỡng gồm thờ cúng tổ tiên, thờ thần núi, thần rừng, nghi lễ Then của người Tày, lễ cấp sắc của người Dao, cùng tín ngưỡng thờ Mẫu ở các đền dọc sông Hồng như đền Bảo Hà, đền Đông Cuông, đền Mẫu Lào Cai. Sa Pa có nhà thờ đá từ thời Pháp; một bộ phận người Mông theo Tin Lành.
Người miền núi ở đây thường được miêu tả là chất phác, thật thà, chịu thương chịu khó, quen với cuộc sống trên sườn núi dốc. Người Thái Mường Lò tự hào về cánh đồng của mình qua câu nói quen thuộc "Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc", xếp Mường Lò thứ hai trong các cánh đồng lớn của vùng Tây Bắc sau Mường Thanh. Thành phố Yên Bái thường được nhắc đến với ký ức về những người khởi nghĩa năm 1930.
Văn hóa
Lễ hội và di sản
Nghệ thuật Xòe Thái, được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2021, có một trong những cái nôi ở Mường Lò (Nghĩa Lộ); vòng xòe tay nắm tay là phần không thể thiếu trong các lễ hội của người Thái. Người Tày giữ hát Then và đàn tính, thuộc di sản Thực hành Then được UNESCO ghi danh năm 2019. Người Mông có lễ hội Gầu Tào, người Dao có lễ cấp sắc và Tết nhảy, người Giáy có lễ Roóng poọc (xuống đồng). Các lễ hội đền Bảo Hà, đền Thượng Lào Cai, đền Đông Cuông thu hút đông khách hành hương.
Chợ phiên vùng cao — Bắc Hà, Cán Cấu, Cốc Ly, Mường Hum — họp theo tuần, là nơi mua bán ngựa, lợn, rượu ngô, thổ cẩm và là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc.
Kiến trúc và nghề thủ công
Nhà sàn của người Thái, Tày; nhà trình tường của người Hà Nhì ở Y Tý; nhà gỗ của người Mông, Dao trên sườn núi; dinh thự Hoàng A Tưởng ở Bắc Hà, xây đầu thế kỷ 20 theo lối pha trộn Âu – Á; nhà thờ đá Sa Pa là những công trình tiêu biểu. Nghề dệt thổ cẩm, nhuộm chàm, thêu của phụ nữ Mông, Dao đỏ; nghề rèn của người Mông; nghề nấu rượu ngô vẫn được duy trì.
Ẩm thực
Ẩm thực có thắng cố, lợn cắp nách, thịt trâu gác bếp, cá hồi và cá tầm Sa Pa, xôi ngũ sắc, cốm Tú Lệ và xôi nếp Tú Lệ, rượu ngô Bắc Hà, rượu táo mèo. Các đặc sản nông nghiệp được biết đến rộng rãi là mận Bắc Hà, chè Shan tuyết Suối Giàng, quế Văn Yên, bưởi Đại Minh.
Nhân vật tiêu biểu
Trước năm 1945
- Lưu Vĩnh Phúc (1837–1917) — thủ lĩnh quân Cờ Đen, lấy Lào Cai làm căn cứ trước khi giúp triều Nguyễn đánh Pháp ở Bắc Kỳ.
- Hoàng A Tưởng — thủ lĩnh địa phương ở Bắc Hà thời Pháp thuộc, chủ nhân dinh thự Hoàng A Tưởng.
- Nguyễn Thái Học (1902–1930) — lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng, lãnh đạo Khởi nghĩa Yên Bái và bị xử chém tại Yên Bái.
- Phó Đức Chính (1907–1930) — đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng, tham gia khởi nghĩa và bị xử chém cùng Nguyễn Thái Học tại Yên Bái.
- Nguyễn Thị Giang (mất 1930) — người bạn đời và đồng chí của Nguyễn Thái Học, tự vẫn sau khi ông bị xử tử ở Yên Bái.
Sau năm 1945
- Ma Văn Kháng (sinh 1936) — nhà văn sống và làm việc lâu năm ở Lào Cai, viết nhiều tác phẩm về miền núi như Đồng bạc trắng hoa xòe.
- Lò Ngân Sủn — nhà thơ người Giáy sinh ra ở Bát Xát, Lào Cai, tiếng nói tiêu biểu của thơ ca các dân tộc thiểu số.
- Hầu A Lềnh (sinh 1973) — người Mông quê Lào Cai, từng là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.
Kinh tế
Lào Cai có mỏ apatit lớn nhất Việt Nam ở Cam Đường, nguồn nguyên liệu chính cho ngành phân lân cả nước, cùng mỏ đồng Sin Quyền (Bát Xát); khu công nghiệp Tằng Loỏng tập trung chế biến hóa chất, phân bón và luyện kim. Yên Bái cũ có đá vôi trắng và vùng đá quý Lục Yên, công nghiệp xi măng, chế biến gỗ, chế biến nông lâm sản, cùng nhà máy thủy điện Thác Bà.
Nông – lâm nghiệp có quế Văn Yên — vùng quế lớn nhất nước — chè, tre măng, cây ăn quả ôn đới ở Bắc Hà, dược liệu và cá nước lạnh ở vùng cao. Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai với cửa khẩu quốc tế đường bộ và đường sắt là đầu mối giao thương chính với Vân Nam.
Giao thông gồm cao tốc Nội Bài – Lào Cai, tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai dọc sông Hồng, quốc lộ 70, quốc lộ 32 qua đèo Khau Phạ lên Mù Cang Chải, quốc lộ 4D qua đèo Ô Quy Hồ sang Lai Châu. Du lịch — Sa Pa, Fansipan, Bắc Hà, Mù Cang Chải — là nguồn thu lớn và đang mở rộng.
Du lịch
- Sa Pa — Thị xã trong mây, ruộng bậc thang thung lũng Mường Hoa và bãi đá cổ khắc hình.1Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Phường Sa Pa
- Fansipan — Đỉnh núi cao nhất Việt Nam và Đông Dương, có cáp treo lên gần đỉnh.2Nằm ở Xã Tả Van
- Đèo Ô Quy Hồ — Con đèo trên dãy Hoàng Liên nối Sa Pa với Lai Châu.3Nằm ở Phường Sa Pa
- Ruộng bậc thang Mù Cang Chải — Di tích quốc gia đặc biệt, đẹp nhất mùa nước đổ tháng Năm và mùa lúa chín tháng Chín.
- Đèo Khau Phạ — Con đèo trên quốc lộ 32, điểm bay dù lượn nổi tiếng.4Nằm ở Xã Tú Lệ
- Mường Lò và Tú Lệ — Cánh đồng của người Thái, quê hương của Xòe và cốm Tú Lệ.5Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Tú Lệ
- Y Tý và Bắc Hà — Vùng núi của người Hà Nhì và người Mông hoa; chợ phiên Bắc Hà họp sáng Chủ nhật.6Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Y Tý
- Dinh thự Hoàng A Tưởng — Công trình kiến trúc Âu – Á ở Bắc Hà.
- Suối Giàng — Rừng chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi.7Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Văn Chấn
- Hồ Thác Bà — Hồ thủy điện với nhiều đảo nhỏ, hang động và đền cổ ven hồ.8Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Thác Bà
- Khu tưởng niệm Nguyễn Thái Học — Mộ và đài tưởng niệm các liệt sĩ Khởi nghĩa Yên Bái ở thành phố Yên Bái.
- Đền Bảo Hà và đền Thượng Lào Cai — Những ngôi đền lớn bên sông Hồng.9Nằm ở Xã Bảo Hà
Bản đồ du lịch
9 trong 12 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.
Đang tải bản đồ…
- 1Sa Pa — Phường Sa Pa (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 2Fansipan — Xã Tả Van
- 3Đèo Ô Quy Hồ — Phường Sa Pa
- 4Đèo Khau Phạ — Xã Tú Lệ
- 5Mường Lò và Tú Lệ — Xã Tú Lệ (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 6Y Tý và Bắc Hà — Xã Y Tý (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 7Suối Giàng — Xã Văn Chấn (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 8Hồ Thác Bà — Xã Thác Bà (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 9Đền Bảo Hà và đền Thượng Lào Cai — Xã Bảo Hà
Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.