Bỏ qua, tới nội dung chính

Tỉnh · Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Thanh Hóa

Thông tin tổng quan

Địa lý

Vùng
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Tọa độ địa lý
19°58′ B, 105°30′ Đ
Diện tích
11.114,6 km²Bộ Nội vụ, 2025
Biên giới quốc gia
Lào
Bờ biển
Có — giáp biển

Dân cư

Dân số
4.320.947 ngườiBộ Nội vụ, 2025
Mật độ dân số
388,8 người/km²Bộ Nội vụ, 2025

Hành chính

Loại đơn vị
Tỉnh
Trung tâm hành chính
Thanh Hóa
Hình thành
Giữ nguyên, không sáp nhập
Đơn vị cấp xã
166 — gồm 19 phường, 147 xã
Biển số xe
36
Đầu mã bưu chính
40, 41, 42

Kinh tế

Tăng trưởng GRDP
—Cục Thống kê, 2025

Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.

Số liệu chính

Diện tích

11.115km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 12/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Dân số

4.320.947người

Xếp hạng toàn quốc: hạng 8/34

Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.

Mật độ dân số

389người/km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 12/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Số đơn vị cấp xã

166đơn vị

Xếp hạng toàn quốc: hạng 2/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Xếp hạng theo dân số

  1. 1Thành phố Hồ Chí Minh14.668.098
  2. 2Hà Nội8.807.523
  3. 3An Giang4.995.214
  4. 4Hải Phòng4.664.124
  5. 5Đồng Nai4.491.408
  6. 6Ninh Bình4.412.264
  7. 7Đồng Tháp4.370.046
  8. 8Thanh Hóa4.320.947
  9. 9Vĩnh Long4.257.581
  10. 10Cần Thơ4.199.788
  11. 11Phú Thọ4.022.493
  12. 12Lâm Đồng3.872.999

Phường, xã và đặc khu

Thanh Hóa có 166 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh.

  • Phường19
  • Xã147

Đang tải bản đồ…

Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.

Hiển thị 166/166

Danh sách đơn vị hành chính cấp xã
TênLoạiDiện tích (km²)
An NôngXã22,8
Ba ĐìnhXã27,2
Bá ThướcXã106,1
Bát MọtXã205,7
Biện ThượngXã65,4
Bỉm SơnPhường51,8
Các SơnXã46,9
Cẩm TânXã66,6
Cẩm ThạchXã106,6
Cẩm ThuỷXã64,4
Cẩm TúXã98,1
Cẩm VânXã88,7
Cổ LũngXã127,1
Công ChínhXã54,2
Đào Duy TừPhường42,9
Điền LưXã66,5
Điền QuangXã103,7
Định HoàXã37,7
Định TânXã30,7
Đồng LươngXã76,1
Đông QuangPhường48,6
Đông SơnPhường41,7
Đông ThànhXã26,4
Đông TiếnPhường42
Đồng TiếnXã20
Giao AnXã113,9
Hà LongXã65,4
Hà TrungXã34,1
Hạc ThànhPhường24,6
Hải BìnhPhường37,7
Hải LĩnhPhường41,2
Hàm RồngPhường20,9
Hậu LộcXã24,9
Hiền KiệtXã140,3
Hoa LộcXã34,7
Hoá QuỳXã116,7
Hoạt GiangXã27,3
Hoằng ChâuXã33,3
Hoằng GiangXã30,5
Hoằng HoáXã35,2
Hoằng LộcXã20,6
Hoằng PhúXã15,4
Hoằng SơnXã21,9
Hoằng ThanhXã23,2
Hoằng TiếnXã23,8
Hồ VươngXã19,3
Hồi XuânXã117,3
Hợp TiếnXã43,1
Kiên ThọXã56,5
Kim TânXã61,6
Lam SơnXã24,9
Linh SơnXã96
Lĩnh ToạiXã30,5
Luận ThànhXã73,5
Lương SơnXã79,9
Lưu VệXã26,8
Mậu LâmXã64,3
Minh SơnXã81,8
Mường ChanhXã65,5
Mường LátXã129,7
Mường LýXã84
Mường MìnXã89,2
Na MèoXã127,4
Nam Sầm SơnPhường18,5
Nam XuânXã131,4
Nga AnXã28,1
Nga SơnXã27,1
Nga ThắngXã27,5
Nghi SơnPhường42,8
Ngọc LặcXã90,4
Ngọc LiênXã80
Ngọc SơnPhường38,2
Ngọc TrạoXã79,6
Nguyệt ẤnXã98,5
Nguyệt ViênPhường22,3
Nhi SơnXã38,7
Như ThanhXã84,1
Như XuânXã69,9
Nông CốngXã50,7
Phú LệXã139,5
Phú XuânXã102,4
Pù LuôngXã81,7
Pù NhiXã65,7
Quan SơnXã98,2
Quảng BìnhXã23,5
Quang ChiểuXã109,9
Quảng ChínhXã26,1
Quảng NgọcXã34,4
Quảng NinhXã17,1
Quảng PhúPhường41,3
Quang TrungPhường29,2
Quảng YênXã24,9
Quý LộcXã38
Quý LươngXã133,4
Sao VàngXã89,3
Sầm SơnPhường30,3
Sơn ĐiệnXã94,4
Sơn ThuỷXã131,6
Tam ChungXã121,5
Tam LưXã162,7
Tam ThanhXã99,2
Tân DânPhường24,6
Tân NinhXã53,6
Tân ThànhXã90,4
Tân TiếnXã28,5
Tây ĐôXã35,4
Thạch BìnhXã90,5
Thạch LậpXã83,8
Thạch QuảngXã123,5
Thanh KỳXã145,3
Thanh PhongXã150,2
Thanh QuânXã109,2
Thành VinhXã115,5
Thăng BìnhXã34,7
Thắng LộcXã73,8
Thắng LợiXã40,3
Thiên PhủXã147,5
Thiết ỐngXã94,3
Thiệu HoáXã36,2
Thiệu QuangXã35,5
Thiệu TiếnXã23,7
Thiệu ToánXã28,4
Thiệu TrungXã21,8
Thọ BìnhXã47,1
Thọ LậpXã33,8
Thọ LongXã22,1
Thọ NgọcXã27,2
Thọ PhúXã35,1
Thọ XuânXã27,4
Thượng NinhXã92,6
Thường XuânXã83,3
Tiên TrangXã17,8
Tĩnh GiaPhường32,2
Tống SơnXã69,4
Triệu LộcXã29,3
Triệu SơnXã41,1
Trúc LâmPhường81,1
Trung ChínhXã44,1
Trung HạXã123,9
Trung LýXã197,5
Trung SơnXã76,8
Trung ThànhXã135,6
Trường LâmXã68,2
Trường VănXã28,3
Tượng LĩnhXã33,2
Vạn LộcXã28,4
Vạn XuânXã139,5
Văn NhoXã64,8
Văn PhúXã106,6
Vân DuXã88,5
Vĩnh LộcXã56,9
Xuân BìnhXã183,2
Xuân ChinhXã172,5
Xuân DuXã92,5
Xuân HoàXã28,3
Xuân LậpXã34,5
Xuân TháiXã120,7
Xuân TínXã31,9
Yên ĐịnhXã29,4
Yên KhươngXã97,9
Yên NhânXã188,7
Yên NinhXã24,7
Yên PhúXã42,6
Yên ThắngXã95,2
Yên ThọXã80,6
Yên TrườngXã27

Tổng quan

Thanh Hóa là tỉnh ở cực bắc của vùng Bắc Trung Bộ, trải từ bờ vịnh Bắc Bộ ở phía đông lên tới vùng núi biên giới Việt – Lào ở phía tây. Tỉnh lỵ là thành phố Thanh Hóa, nằm bên bờ nam sông Mã. Vị trí nằm giữa đồng bằng Bắc Bộ và dải đất miền Trung khiến Thanh Hóa từ xưa đã là vùng bản lề, vừa là hậu phương vừa là cửa ngõ của các triều đại đóng đô ở Thăng Long.

Thanh Hóa nổi tiếng là đất của những nền văn hóa cổ và của các dòng họ làm nên lịch sử: tên làng Đông Sơn đã trở thành tên của cả một nền văn minh thời dựng nước; nơi đây có Thành nhà Hồ, di sản văn hóa thế giới; là quê hương khởi nghĩa Lam Sơn và đất phát tích của nhà Hậu Lê, của chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Trong cuộc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Thanh Hóa là một trong 11 tỉnh, thành giữ nguyên địa giới, không hợp nhất với đơn vị nào.

Lịch sử

Tiền sử và thời dựng nước

Dấu vết con người ở Thanh Hóa có từ rất sớm. Núi Đọ, bên bờ sông Chu, là một di chỉ công cụ đá cũ được giới khảo cổ biết đến từ những năm 1960. Hang Con Moong ở vùng rừng Cúc Phương phía Thạch Thành lưu lại nhiều tầng văn hóa liên tục từ thời đồ đá, nay là di tích quốc gia đặc biệt. Ở Vĩnh Lộc, di chỉ Đa Bút đã đặt tên cho một nền văn hóa đồ đá mới ven biển cổ.

Đỉnh cao của thời tiền sử là văn hóa Đông Sơn, được đặt tên theo làng Đông Sơn bên sông Mã, nơi các cuộc khai quật bắt đầu từ năm 1924. Trống đồng, thạp đồng, vũ khí và công cụ bằng đồng tìm thấy ở đây và trên khắp miền Bắc Việt Nam được xem là dấu ấn vật chất của thời kỳ các vua Hùng và nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.

Thời Bắc thuộc

Dưới thời nhà Hán, vùng đất này thuộc quận Cửu Chân; sang thời Đường được gọi là Ái Châu. Năm 248, Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi binh ở vùng núi Nưa chống quân Ngô. Câu nói tương truyền của bà — "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông..." — đến nay vẫn được nhắc như một biểu tượng của khí phách nữ giới Việt Nam.

Đầu thế kỷ 10, Dương Đình Nghệ, một hào trưởng Ái Châu, đem quân ra Bắc đánh đuổi quân Nam Hán, giữ quyền tự chủ cho đất nước. Con rể ông là Ngô Quyền về sau đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở ra thời kỳ độc lập.

Các triều đại độc lập

Thời Lý, tên gọi Thanh Hóa bắt đầu xuất hiện trong sử sách. Đất Thanh là nơi xuất thân của Lê Văn Hưu, tác giả bộ Đại Việt sử ký thời Trần, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam được biết đến.

Cuối thế kỷ 14, Hồ Quý Ly — người có dòng họ định cư ở Đại Lại — cho xây thành Tây Đô năm 1397 ở Vĩnh Lộc và dời kinh đô về đây. Tòa thành được ghép bằng những khối đá lớn đẽo gọt vuông vức, đến nay bốn cổng thành vẫn đứng vững. Năm 2011, UNESCO ghi danh Thành nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới.

Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Những năm đầu đầy gian khổ được ghi dấu bằng sự hy sinh của Lê Lai, người mặc áo bào giả làm chủ tướng để cứu Lê Lợi. Sau mười năm kháng chiến, nghĩa quân đánh đuổi quân Minh, Lê Lợi lên ngôi năm 1428, mở ra nhà Hậu Lê. Quê hương Lam Sơn được tôn làm Lam Kinh, nơi đặt điện miếu và lăng mộ các vua Lê.

Lê trung hưng, Trịnh – Nguyễn

Khi nhà Mạc giành ngôi năm 1527, Thanh Hóa trở thành căn cứ của phong trào phù Lê. Nguyễn Kim, người Gia Miêu (Hà Trung), tôn lập vua Lê và mở đầu thời Lê trung hưng. Sau khi ông mất, quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm, người Sóc Sơn (Vĩnh Lộc), khởi đầu cơ nghiệp các chúa Trịnh. Con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng năm 1558 xin vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu cơ nghiệp các chúa Nguyễn ở phương Nam. Như vậy cả hai dòng họ chia nhau cai trị Đàng Ngoài và Đàng Trong suốt hơn hai thế kỷ đều có gốc ở Thanh Hóa.

Một người Thanh Hóa khác, Đào Duy Từ, vì xuất thân con nhà hát xướng không được đi thi ở Đàng Ngoài nên vào Nam giúp chúa Nguyễn, là người thiết kế hệ thống lũy Thầy ở Quảng Bình.

Dưới triều Nguyễn, Gia Miêu được tôn là đất phát tích của hoàng tộc, với lăng miếu Triệu Tường ở Hà Trung. Đơn vị hành chính khi ấy mang tên trấn rồi tỉnh Thanh Hoa; đời Thiệu Trị đổi thành Thanh Hóa để tránh trùng tên húy.

Thời Pháp thuộc và các cuộc kháng chiến

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, Thanh Hóa có nhiều cuộc khởi nghĩa lớn. Tiêu biểu nhất là khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887) ở Nga Sơn do Đinh Công Tráng chỉ huy, dựa vào ba làng giữa vùng đồng chiêm trũng để dựng chiến lũy. Cùng thời có khởi nghĩa Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân và cuộc chiến đấu của Cầm Bá Thước ở miền núi Thường Xuân.

Trong kháng chiến chống Pháp, Thanh Hóa là vùng tự do, một hậu phương lớn cung cấp sức người, sức của cho các chiến dịch, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chiến tranh chống Mỹ, cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã là mục tiêu bị đánh phá dữ dội; trận chiến ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 bảo vệ cầu trở thành một biểu tượng của cuộc chiến đấu chống không quân Mỹ ở miền Bắc.

Từ sau 1975 và cuộc sắp xếp năm 2025

Khác với nhiều tỉnh lân cận, Thanh Hóa không bị hợp nhất trong đợt sáp nhập năm 1976 và giữ nguyên tên gọi, địa giới cấp tỉnh suốt nửa thế kỷ sau đó. Những thay đổi diễn ra ở cấp dưới: thành phố Thanh Hóa được mở rộng, các đô thị Bỉm Sơn, Sầm Sơn, Nghi Sơn lần lượt được nâng cấp.

Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025, có hiệu lực từ 1/7/2025, Thanh Hóa là một trong 11 tỉnh, thành không phải sáp nhập. Cùng thời điểm, cấp huyện trên cả nước bị bãi bỏ; Thanh Hóa chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp gồm tỉnh và xã, phường. Tên gọi và trung tâm hành chính tại thành phố Thanh Hóa được giữ nguyên.

Địa lý

Thanh Hóa giáp Ninh Bình, Phú Thọ và Sơn La ở phía bắc, Nghệ An ở phía nam, nước Lào ở phía tây và vịnh Bắc Bộ ở phía đông. Địa hình thấp dần từ tây sang đông theo ba vùng rõ rệt: miền núi và trung du phía tây, đồng bằng ở giữa và dải ven biển.

Đồng bằng Thanh Hóa được bồi đắp chủ yếu bởi hệ thống sông Mã và sông Chu, cùng các sông nhỏ hơn như sông Yên, sông Lèn, sông Bưởi, sông Hoạt. Đây là một trong những đồng bằng lớn nhất miền Trung. Bờ biển có nhiều bãi cát dài như Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa, cùng các đảo nhỏ ven bờ như Hòn Mê và đảo Nẹ.

Miền tây là núi rừng nối tiếp dãy núi Tây Bắc, có Vườn quốc gia Bến En cùng các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Pù Hu và Xuân Liên. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc; mùa hè chịu gió tây khô nóng, quen gọi là gió Lào. Bão, áp thấp nhiệt đới và lũ trên sông Mã, sông Chu là những thiên tai thường gặp.

Con người

Người Kinh sống chủ yếu ở đồng bằng và ven biển. Miền núi phía tây là địa bàn của người Mường — cộng đồng có quan hệ gần gũi với người Kinh về nguồn gốc và ngôn ngữ — cùng người Thái, Thổ, Dao, Mông và Khơ Mú. Người Mường Thanh Hóa có kho sử thi, truyện thơ và mo Mường phong phú; người Thái có chữ viết cổ và những bản khắp truyền đời.

Tiếng Thanh là vùng chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Bắc Trung Bộ, giữ lại nhiều từ cổ và có cách phát âm riêng mà người nơi khác dễ nhận ra. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng và các anh hùng có công với đất nước rất đậm nét; bên cạnh đó có Phật giáo, Công giáo — nổi bật là những giáo xứ lâu đời ở vùng ven biển — và tín ngưỡng thờ Mẫu với trung tâm là đền Sòng ở Bỉm Sơn.

Thanh Hóa thường được gọi là đất "địa linh nhân kiệt", đất "phát đế, phát vương" vì là quê gốc của nhiều triều đại. Người Thanh Hóa thường được mô tả là cần cù, chịu thương chịu khó, gắn bó với họ hàng, làng xóm, coi trọng việc học và có tinh thần cố kết đồng hương mạnh mẽ khi đi làm ăn xa. Nhiều thế hệ người Thanh đã di cư vào Nam và ra các đô thị lớn, mang theo nếp sinh hoạt và món ăn quê hương.

Văn hóa

Kho di sản phi vật thể của Thanh Hóa rất đa dạng. Trò Xuân Phả — năm điệu múa cổ mô phỏng các đoàn sứ bộ đến dâng lễ — là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hò sông Mã của những người chèo đò vẫn được truyền dạy. Người Mường có Pồn Pôông, một hình thức diễn xướng dân gian gắn với lễ hội đầu xuân; người Thái có các điệu khắp và múa xòe.

Các lễ hội lớn gắn với lịch sử gồm lễ hội Lam Kinh, tưởng niệm Lê Lợi và các công thần khởi nghĩa Lam Sơn; lễ hội đền Bà Triệu ở Hậu Lộc; lễ hội đền Sòng thờ Mẫu Liễu Hạnh; cùng nhiều lễ hội cầu ngư ở các làng biển.

Thanh Hóa có nhiều làng nghề truyền thống: chiếu cói Nga Sơn, đúc đồng Trà Đông, chạm khắc đá Nhồi, gốm Lò Chum, cùng nghề dệt thổ cẩm của người Thái và người Mường. Kiến trúc tiêu biểu ngoài thành đá nhà Hồ còn có những ngôi đình làng cổ, phủ thờ chúa Trịnh và nhà sàn miền núi.

Ẩm thực xứ Thanh nổi tiếng với nem chua Thanh Hóa, bánh gai Tứ Trụ, chè lam Phủ Quảng, gỏi nhệch Nga Sơn, bánh răng bừa, bánh cuốn chả tôm và các loại mắm, hải sản vùng biển Sầm Sơn.

Nhân vật tiêu biểu

Thời cổ và phong kiến

  • Bà Triệu (226–248) — Nữ anh hùng khởi nghĩa chống quân Ngô năm 248 ở vùng núi Nưa.
  • Dương Đình Nghệ (?–937) — Hào trưởng Ái Châu, đánh đuổi quân Nam Hán và giữ quyền tự chủ cho đất nước.
  • Lê Văn Hưu (1230–1322) — Sử gia thời Trần, tác giả Đại Việt sử ký, quê ở vùng Thiệu Hóa ngày nay.
  • Hồ Quý Ly — Người lập nhà Hồ, cho xây thành Tây Đô và tiến hành nhiều cải cách; dòng họ ông định cư ở Đại Lại.
  • Lê Lợi (1385–1433) — Lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn, người sáng lập nhà Hậu Lê.
  • Lê Lai (?–1419) — Tướng Lam Sơn, hy sinh để cứu chủ tướng Lê Lợi.
  • Nguyễn Kim (1468–1545) — Người Gia Miêu, khởi đầu sự nghiệp Lê trung hưng.
  • Trịnh Kiểm (1503–1570) — Người Sóc Sơn, Vĩnh Lộc, khởi đầu cơ nghiệp chúa Trịnh.
  • Nguyễn Hoàng (1525–1613) — Con Nguyễn Kim, chúa Nguyễn đầu tiên, người mở cõi Đàng Trong.
  • Đào Duy Từ (1572–1634) — Mưu thần của chúa Nguyễn, người thiết kế lũy Thầy.

Cận – hiện đại

  • Tống Duy Tân (1837–1892) — Tiến sĩ, thủ lĩnh khởi nghĩa Hùng Lĩnh trong phong trào Cần Vương.
  • Đinh Công Tráng (1842–1887) — Chỉ huy khởi nghĩa Ba Đình ở Nga Sơn.
  • Hữu Loan (1916–2010) — Nhà thơ quê Nga Sơn, tác giả bài thơ Màu tím hoa sim.

Kinh tế

Kinh tế Thanh Hóa dựa trên ba trụ cột công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Khu kinh tế Nghi Sơn ở phía nam tỉnh là đầu tàu công nghiệp, với nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn — một trong hai nhà máy lọc dầu của cả nước — cùng cảng biển nước sâu, các nhà máy nhiệt điện, xi măng và thép. Bỉm Sơn ở phía bắc là trung tâm xi măng lâu đời.

Nông nghiệp có vùng lúa đồng bằng sông Mã, sông Chu, vùng mía nguyên liệu cho các nhà máy đường ở miền tây và trung du, cùng cói Nga Sơn và rừng trồng. Thủy sản biển và nuôi trồng ven bờ phát triển ở các huyện ven biển cũ. Du lịch biển ở Sầm Sơn, Hải Tiến cùng du lịch di sản và sinh thái miền núi đóng góp ngày càng nhiều.

Thanh Hóa nằm trên trục giao thông Bắc – Nam với quốc lộ 1, đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, đường sắt Thống Nhất và đường Hồ Chí Minh. Cảng hàng không Thọ Xuân phục vụ các chuyến bay nội địa. Cửa khẩu quốc tế Na Mèo nối sang tỉnh Hủa Phăn của Lào.

Du lịch

  • Thành nhà Hồ — Di sản văn hóa thế giới UNESCO (2011), tòa thành đá xây năm 1397 với các khối đá lớn ghép khít.1Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Tây Đô
  • Khu di tích Lam Kinh — Điện miếu và lăng mộ các vua Lê giữa rừng cây, gắn với khởi nghĩa Lam Sơn.2Nằm ở Xã Lam Sơn
  • Đền Bà Triệu — Nơi thờ nữ anh hùng Triệu Thị Trinh ở Hậu Lộc, bên chân núi Tùng.3Nằm ở Xã Triệu Lộc
  • Sầm Sơn — Khu nghỉ mát biển được người Pháp khai thác từ đầu thế kỷ 20, gắn với núi Trường Lệ và đền Độc Cước.4Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Phường Sầm Sơn
  • Pù Luông — Thung lũng ruộng bậc thang và bản người Thái giữa khu bảo tồn thiên nhiên.
  • Suối cá thần Cẩm Lương — Đàn cá sống trong dòng suối chảy ra từ hang núi, được dân bản coi là cá thiêng.
  • Hang Con Moong — Di chỉ khảo cổ với nhiều lớp cư trú liên tục của người tiền sử.5Nằm ở Xã Thành Vinh
  • Vườn quốc gia Bến En — Rừng và hồ nước rộng với nhiều đảo nhỏ ở vùng trung du phía tây nam.6Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Xuân Thái
  • Cầu Hàm Rồng — Cây cầu qua sông Mã gắn với những trận chiến đấu chống không quân năm 1965.7Nằm ở Phường Hàm Rồng
  • Động Từ Thức — Hang động ở Nga Sơn gắn với truyền thuyết chàng Từ Thức gặp tiên.8Nằm ở Xã Ba Đình
  • Đền Sòng — Trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Bỉm Sơn.

Bản đồ du lịch

8 trong 11 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.

Đang tải bản đồ…

  1. 1Thành nhà Hồ — Xã Tây Đô (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  2. 2Khu di tích Lam Kinh — Xã Lam Sơn
  3. 3Đền Bà Triệu — Xã Triệu Lộc
  4. 4Sầm Sơn — Phường Sầm Sơn (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  5. 5Hang Con Moong — Xã Thành Vinh
  6. 6Vườn quốc gia Bến En — Xã Xuân Thái (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  7. 7Cầu Hàm Rồng — Phường Hàm Rồng
  8. 8Động Từ Thức — Xã Ba Đình

Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.