Tỉnh · Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng Tháp
Thông tin tổng quan
Địa lý
- Vùng
- Đồng bằng sông Cửu Long
- Tọa độ địa lý
- 10°25′ B, 105°48′ Đ
- Diện tích
- 5.938,64 km²Bộ Nội vụ, 2025-07-01
- Biên giới quốc gia
- Campuchia
- Bờ biển
- Có — giáp biển
Dân cư
- Dân số
- 4.370.046 ngườiBộ Nội vụ, 2025-07-01
- Mật độ dân số
- 735,9 người/km²Bộ Nội vụ, 2025
Hành chính
- Loại đơn vị
- Tỉnh
- Trung tâm hành chính
- Mỹ Tho
- Hình thành
- Hợp nhất từ Tiền Giang, Đồng Tháp (1/7/2025)
- Đơn vị cấp xã
- 102 — gồm 20 phường, 82 xã
- Biển số xe
- 63, 66
- Đầu mã bưu chính
- 81, 84
Kinh tế
- Tăng trưởng GRDP
- —Cục Thống kê, 2025
Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.
Hình thành từ
Số liệu chính
Diện tích
5.939km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 28/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Dân số
4.370.046người
Xếp hạng toàn quốc: hạng 7/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Mật độ dân số
736người/km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 7/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Số đơn vị cấp xã
102đơn vị
Xếp hạng toàn quốc: hạng 14/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Xếp hạng theo dân số
Phường, xã và đặc khu
Đồng Tháp có 102 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.
- Tiền Giang57
- Đồng Tháp45
Đang tải bản đồ…
Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.
Hiển thị 102/102
| Tên | Loại | Thuộc tỉnh cũ | Diện tích (km²) | Mã bưu chính | Mã ĐVHC |
|---|---|---|---|---|---|
| An Bình | Phường | Đồng Tháp | 50,1 | ||
| An Hoà | Xã | Đồng Tháp | 77,9 | ||
| An Hữu | Xã | Tiền Giang | 43,9 | ||
| An Long | Xã | Đồng Tháp | 72,2 | ||
| An Phước | Xã | Đồng Tháp | 64,9 | ||
| An Thạnh Thuỷ | Xã | Tiền Giang | 42,7 | ||
| Ba Sao | Xã | Đồng Tháp | 81,1 | ||
| Bình Hàng Trung | Xã | Đồng Tháp | 78,2 | ||
| Bình Ninh | Xã | Tiền Giang | 46,6 | ||
| Bình Phú | Xã | Tiền Giang | 47,3 | ||
| Bình Thành | Xã | Đồng Tháp | 72,1 | ||
| Bình Trưng | Xã | Tiền Giang | 31,2 | ||
| Bình Xuân | Phường | Tiền Giang | 34,4 | ||
| Cái Bè | Xã | Tiền Giang | 41,1 | ||
| Cai Lậy | Phường | Tiền Giang | 25,5 | ||
| Cao Lãnh | Phường | Đồng Tháp | 73,3 | ||
| Châu Thành | Xã | Tiền Giang | 24,3 | ||
| Chợ Gạo | Xã | Tiền Giang | 25,2 | ||
| Đạo Thạnh | Phường | Tiền Giang | 14,3 | ||
| Đốc Binh Kiều | Xã | Đồng Tháp | 77,8 | ||
| Đồng Sơn | Xã | Tiền Giang | 44,3 | ||
| Gia Thuận | Xã | Tiền Giang | 67,4 | ||
| Gò Công | Phường | Tiền Giang | 10,1 | ||
| Gò Công Đông | Xã | Tiền Giang | 106,4 | ||
| Hậu Mỹ | Xã | Tiền Giang | 78,6 | ||
| Hiệp Đức | Xã | Tiền Giang | 46 | ||
| Hoà Long | Xã | Đồng Tháp | 81,3 | ||
| Hội Cư | Xã | Tiền Giang | 48,7 | ||
| Hồng Ngự | Phường | Đồng Tháp | 64,2 | ||
| Hưng Thạnh | Xã | Tiền Giang | 65,2 | ||
| Kim Sơn | Xã | Tiền Giang | 29,4 | ||
| Lai Vung | Xã | Đồng Tháp | 71,2 | ||
| Lấp Vò | Xã | Đồng Tháp | 85,2 | ||
| Long Bình | Xã | Tiền Giang | 36,6 | ||
| Long Định | Xã | Tiền Giang | 43,8 | ||
| Long Hưng | Xã | Tiền Giang | 43,3 | ||
| Long Khánh | Xã | Đồng Tháp | 29 | ||
| Long Phú Thuận | Xã | Đồng Tháp | 56,6 | ||
| Long Thuận | Phường | Tiền Giang | 8,3 | ||
| Long Tiên | Xã | Tiền Giang | 44,6 | ||
| Lương Hoà Lạc | Xã | Tiền Giang | 35,3 | ||
| Mỹ An Hưng | Xã | Đồng Tháp | 65,3 | ||
| Mỹ Đức Tây | Xã | Tiền Giang | 45,8 | ||
| Mỹ Hiệp | Xã | Đồng Tháp | 79,4 | ||
| Mỹ Lợi | Xã | Tiền Giang | 43,8 | ||
| Mỹ Ngãi | Phường | Đồng Tháp | 49 | ||
| Mỹ Phong | Phường | Tiền Giang | 23 | ||
| Mỹ Phước Tây | Phường | Tiền Giang | 36,1 | ||
| Mỹ Quí | Xã | Đồng Tháp | 119,9 | ||
| Mỹ Thành | Xã | Tiền Giang | 52,3 | ||
| Mỹ Thiện | Xã | Tiền Giang | 62,6 | ||
| Mỹ Tho | Phường | Tiền Giang | 6,4 | ||
| Mỹ Thọ | Xã | Đồng Tháp | 61,5 | ||
| Mỹ Tịnh An | Xã | Tiền Giang | 41,2 | ||
| Mỹ Trà | Phường | Đồng Tháp | 46,3 | ||
| Ngũ Hiệp | Xã | Tiền Giang | 47,9 | ||
| Nhị Quý | Phường | Tiền Giang | 21,4 | ||
| Phong Hoà | Xã | Đồng Tháp | 87,9 | ||
| Phong Mỹ | Xã | Đồng Tháp | 78,6 | ||
| Phú Cường | Xã | Đồng Tháp | 89,9 | ||
| Phú Hựu | Xã | Đồng Tháp | 71,3 | ||
| Phú Thành | Xã | Tiền Giang | 31,9 | ||
| Phú Thọ | Xã | Đồng Tháp | 84,9 | ||
| Phương Thịnh | Xã | Đồng Tháp | 104,7 | ||
| Sa Đéc | Phường | Đồng Tháp | 46,9 | ||
| Sơn Qui | Phường | Tiền Giang | 49 | ||
| Tam Nông | Xã | Đồng Tháp | 102,7 | ||
| Tân Dương | Xã | Đồng Tháp | 46,7 | ||
| Tân Điền | Xã | Tiền Giang | 39 | ||
| Tân Đông | Xã | Tiền Giang | 50,4 | ||
| Tân Hoà | Xã | Tiền Giang | 38 | ||
| Tân Hộ Cơ | Xã | Đồng Tháp | 77,5 | ||
| Tân Hồng | Xã | Đồng Tháp | 102,8 | ||
| Tân Hương | Xã | Tiền Giang | 35,1 | ||
| Tân Khánh Trung | Xã | Đồng Tháp | 60,1 | ||
| Tân Long | Xã | Đồng Tháp | 94,9 | ||
| Tân Nhuận Đông | Xã | Đồng Tháp | 92 | ||
| Tân Phú | Xã | Tiền Giang | 38,6 | ||
| Tân Phú Đông | Xã | Tiền Giang | 175,2 | ||
| Tân Phú Trung | Xã | Đồng Tháp | 82,6 | ||
| Tân Phước 1 | Xã | Tiền Giang | 95,4 | ||
| Tân Phước 2 | Xã | Tiền Giang | 89,4 | ||
| Tân Phước 3 | Xã | Tiền Giang | 80,2 | ||
| Tân Thành | Xã | Đồng Tháp | 64,8 | ||
| Tân Thạnh | Xã | Đồng Tháp | 59,5 | ||
| Tân Thới | Xã | Tiền Giang | 65,8 | ||
| Tân Thuận Bình | Xã | Tiền Giang | 39,9 | ||
| Thanh Bình | Xã | Đồng Tháp | 86 | ||
| Thanh Hoà | Phường | Tiền Giang | 19,5 | ||
| Thanh Hưng | Xã | Tiền Giang | 51,9 | ||
| Thanh Mỹ | Xã | Đồng Tháp | 93,1 | ||
| Thạnh Phú | Xã | Tiền Giang | 56,6 | ||
| Tháp Mười | Xã | Đồng Tháp | 70,4 | ||
| Thới Sơn | Phường | Tiền Giang | 15,2 | ||
| Thường Lạc | Phường | Đồng Tháp | 43,7 | ||
| Thường Phước | Xã | Đồng Tháp | 80,7 | ||
| Tràm Chim | Xã | Đồng Tháp | 90,2 | ||
| Trung An | Phường | Tiền Giang | 23,4 | ||
| Trường Xuân | Xã | Đồng Tháp | 113,8 | ||
| Vĩnh Bình | Xã | Tiền Giang | 39,8 | ||
| Vĩnh Hựu | Xã | Tiền Giang | 31,9 | ||
| Vĩnh Kim | Xã | Tiền Giang | 25,6 |
Tổng quan
Tỉnh Đồng Tháp hiện nay là một đơn vị hành chính cấp tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, trải dài dọc theo bờ bắc và hai bên sông Tiền, từ biên giới Campuchia ở phía tây bắc xuống tận cửa biển Gò Công ở phía đông. Tỉnh bao trùm phần lớn vùng trũng Đồng Tháp Mười, những cù lao trù phú giữa sông Tiền và dải đất ven biển giáp cửa sông Soài Rạp. Trung tâm hành chính đặt tại Mỹ Tho, một trong những đô thị lâu đời nhất của người Việt ở Nam Bộ.
Tỉnh được lập ngày 1 tháng 7 năm 2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh cũ Đồng Tháp và Tiền Giang, giữ tên gọi Đồng Tháp. Vùng đất này nổi tiếng với hoa sen Đồng Tháp Mười, sếu đầu đỏ ở Tràm Chim, làng hoa Sa Đéc, những vườn trái cây Cái Bè – Cai Lậy, chợ nổi trên sông Tiền, hủ tiếu Mỹ Tho, và với những trang sử lớn: trận thủy chiến Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, cuộc khởi nghĩa của Trương Định ở Gò Công, căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười.
Lịch sử
Thời cổ: văn hóa Óc Eo
Ở Gò Tháp (thuộc Tháp Mười cũ), các nhà khảo cổ đã phát hiện một quần thể di tích của văn hóa Óc Eo, gắn với vương quốc Phù Nam trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Những nền móng kiến trúc gạch, tượng thờ và hiện vật bằng vàng cho thấy đây từng là một trung tâm tôn giáo quan trọng giữa vùng trũng. Sau thời Phù Nam, vùng đất thuộc Chân Lạp, dân cư thưa thớt, phần lớn là đồng ngập nước.
Khai phá và Mỹ Tho đại phố
Cuối thế kỷ 17, nhóm di thần nhà Minh do Dương Ngạn Địch dẫn đầu được chúa Nguyễn cho định cư ở vùng Mỹ Tho. Họ cùng lưu dân người Việt lập nên Mỹ Tho đại phố, một thương cảng sầm uất bậc nhất Đàng Trong trước khi vai trò ấy dần chuyển về Sài Gòn – Chợ Lớn. Trong thế kỷ 18, vùng này dần được tổ chức thành đơn vị hành chính riêng, về sau mang tên Định Tường.
Đầu năm 1785, trên khúc sông Tiền giữa Rạch Gầm và Xoài Mút, Nguyễn Huệ đánh tan đạo quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút, một trong những trận thủy chiến lớn nhất lịch sử Việt Nam.
Năm 1832, vua Minh Mạng lập tỉnh Định Tường với tỉnh lỵ ở Mỹ Tho, một trong Nam Kỳ lục tỉnh. Vùng Sa Đéc và Cao Lãnh thời ấy nằm ở rìa các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long và An Giang. Gò Công là quê ngoại của vua Tự Đức: thân phụ của Hoàng thái hậu Từ Dụ là Phạm Đăng Hưng, có lăng mộ tại đây.
Kháng chiến chống Pháp
Tháng 4 năm 1861, quân Pháp chiếm Mỹ Tho; Hòa ước năm 1862 cắt Định Tường cùng Gia Định, Biên Hòa cho Pháp. Không chấp nhận hòa ước, Trương Định lấy Gò Công làm căn cứ, được dân tôn làm Bình Tây Đại nguyên soái, chiến đấu đến khi hy sinh năm 1864. Thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân) cũng khởi nghĩa ở vùng Mỹ Tho. Ở phía tây, Thiên Hộ Dương (Võ Duy Dương) và Đốc binh Kiều dựa vào Đồng Tháp Mười lập căn cứ chống Pháp trong những năm 1860.
Dưới thời Pháp, tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho được khánh thành năm 1885, là tuyến đường sắt đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1900, các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc được lập. Năm 1929, cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mất tại Cao Lãnh.
Hai cuộc kháng chiến
Đồng Tháp Mười với địa hình ngập nước, lau sậy trở thành căn cứ kháng chiến lớn trong cả hai cuộc chiến tranh, với các di tích như Xẻo Quýt, Gò Tháp. Mỹ Tho là một trong những trung tâm của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940. Ngày 2 tháng 1 năm 1963, trận Ấp Bắc ở Cai Lậy diễn ra, được xem là một mốc quan trọng của chiến tranh ở miền Nam. Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, vùng này gồm các tỉnh Định Tường, Gò Công, Kiến Phong và Sa Đéc.
Sau năm 1975
Năm 1976, hai tỉnh mới được lập: Tiền Giang từ Mỹ Tho, Gò Công và thành phố Mỹ Tho; Đồng Tháp từ Kiến Phong và Sa Đéc. Tỉnh lỵ Đồng Tháp đặt ở Cao Lãnh. Trong những thập niên sau, Mỹ Tho, Cao Lãnh, Sa Đéc, Gò Công và Hồng Ngự lần lượt được nâng cấp đô thị.
Hai tỉnh hợp thành
- Đồng Tháp — vùng Đồng Tháp Mười và hai bờ sông Tiền phía thượng lưu, với hoa sen, Tràm Chim, làng hoa Sa Đéc và di tích Gò Tháp.
- Tiền Giang — vùng Mỹ Tho – Gò Công ở hạ lưu sông Tiền, đất của Mỹ Tho đại phố, Rạch Gầm – Xoài Mút, Trương Định và những vườn trái cây Cái Bè, Cai Lậy.
Hợp nhất năm 2025
Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, hai tỉnh Đồng Tháp và Tiền Giang được hợp nhất thành tỉnh Đồng Tháp. Tên gọi Đồng Tháp được giữ lại, còn trung tâm chính trị – hành chính chuyển về Mỹ Tho, tỉnh lỵ cũ của Tiền Giang. Cấp huyện được bãi bỏ; tỉnh vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp gồm tỉnh và xã, phường.
Địa lý
Tỉnh nằm ở phía bắc đồng bằng sông Cửu Long. Phía tây bắc giáp Campuchia, phía tây và tây nam giáp tỉnh An Giang (mới) và thành phố Cần Thơ, phía nam giáp tỉnh Vĩnh Long (mới) qua sông Tiền, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Tây Ninh (mới) và Thành phố Hồ Chí Minh, phía đông nhìn ra biển.
Sông Tiền là trục xương sống, chảy từ biên giới qua Hồng Ngự, Cao Lãnh, Sa Đéc, Cái Bè, Mỹ Tho rồi chia nhánh ra biển. Giữa sông có nhiều cù lao như Long Khánh, cù lao Tây, Thới Sơn, Tân Phong. Phía bắc sông Tiền là vùng trũng Đồng Tháp Mười, nơi nước lũ từ thượng nguồn tràn về mỗi mùa nước nổi. Phía nam sông Tiền là vùng đất phù sa giữa sông Tiền và sông Hậu. Ở phía đông, vùng Gò Công có bờ biển bãi bồi, giáp cửa Soài Rạp. Kênh Chợ Gạo nối sông Tiền với hệ thống sông Vàm Cỏ là tuyến giao thông thủy quan trọng.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Vườn quốc gia Tràm Chim, phần còn lại của hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười, được công nhận là khu Ramsar và là nơi sếu đầu đỏ về trú ngụ. Các khu sinh thái Gáo Giồng, Xẻo Quýt giữ lại rừng tràm đặc trưng.
Thiên tai chính gồm lũ ở vùng thượng lưu, sạt lở bờ sông Tiền, xâm nhập mặn ở vùng Gò Công và hạ lưu, cùng hạn hán vào cuối mùa khô.
Con người
Cư dân chủ yếu là người Kinh, cùng cộng đồng Hoa sinh sống lâu đời ở Mỹ Tho, Sa Đéc, Cái Bè và một số ít người Khmer. Người dân nói phương ngữ Nam Bộ.
Tôn giáo đa dạng: Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thờ Thành hoàng ở đình làng, Công giáo, đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo. Vùng Đồng Tháp gắn với Bửu Sơn Kỳ Hương: Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên sinh ở vùng Sa Đéc.
Lịch sử di dân gồm làn sóng lưu dân Việt từ miền Trung theo đường sông vào khẩn hoang, nhóm di thần nhà Minh lập phố Mỹ Tho, và những đợt dân cư mở đất Đồng Tháp Mười trong thế kỷ 20, nhất là sau năm 1975 khi vùng trũng được đào kênh, khai hoang.
Về tính cách, người dân vùng này thường được mô tả là hiền hòa, chân chất, hiếu khách và trọng nghĩa. Người Đồng Tháp Mười hay được gắn với hình ảnh cần cù, chịu thương chịu khó, quen sống chung với lũ. Người Gò Công được nhắc đến với truyền thống thượng võ gắn với Trương Định, Thủ khoa Huân. Câu thơ của Bảo Định Giang "Tháp Mười đẹp nhất bông sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ" đã thành lời quen thuộc khi nói về quê hương này.
Văn hóa
Lễ hội
- Lễ hội Gò Tháp tưởng niệm Thiên Hộ Dương và Đốc binh Kiều, gắn với tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Gò Tháp.
- Lễ hội Nghinh Ông của ngư dân vùng biển Gò Công.
- Lễ giỗ Trương Định ở Gò Công, lễ giỗ cụ Nguyễn Sinh Sắc ở Cao Lãnh.
- Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, lễ Kỳ Yên tại các đình.
- Lễ hội hoa xuân ở làng hoa Sa Đéc.
Di sản phi vật thể và nghệ thuật
Vùng đất này là một trong những cái nôi của đờn ca tài tử Nam Bộ, được UNESCO ghi danh năm 2013. Cải lương phát triển mạnh, với nhiều nghệ sĩ xuất thân từ Mỹ Tho, Gò Công. Hát bội, hò Đồng Tháp và hò sông Tiền là các hình thức dân ca quen thuộc. Giáo sư Trần Văn Khê, người đưa âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới, sinh ở Vĩnh Kim.
Làng nghề
- Làng hoa kiểng Sa Đéc (Tân Quy Đông) — một trong những vùng trồng hoa kiểng lớn nhất miền Nam.
- Làng nghề bánh phồng tôm Sa Giang, làng nem Lai Vung.
- Làng nghề dệt chiếu Định Yên.
- Làng bánh tráng, bánh phồng và nghề đan lát ở nhiều nơi.
Kiến trúc
Các công trình tiêu biểu gồm chùa Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho pha trộn phong cách Á – Âu, chùa Kiến An Cung của người Hoa ở Sa Đéc, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc, lăng Hoàng gia ở Gò Công, các nhà cổ ở Cái Bè và Gò Công.
Ẩm thực
Hủ tiếu Mỹ Tho, hủ tiếu Sa Đéc, nem Lai Vung, cá linh kho mía và cá linh bông điên điển mùa nước nổi, lẩu mắm, chuột đồng nướng, các món từ sen; mắm tôm chà Gò Công, sam biển; cùng các loại trái cây: xoài Cao Lãnh, quýt hồng Lai Vung, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, sầu riêng Ngũ Huệ, khóm Tân Lập, thanh long Chợ Gạo.
Nhân vật tiêu biểu
Thời phong kiến và Pháp thuộc
- Dương Ngạn Địch — tướng nhà Minh lưu vong, cùng thuộc hạ khai lập vùng Mỹ Tho cuối thế kỷ 17.
- Phạm Đăng Hưng (1764–1825) — đại thần nhà Nguyễn, thân phụ của Hoàng thái hậu Từ Dụ, có lăng ở Gò Công.
- Từ Dụ (Phạm Thị Hằng, 1810–1902) — Hoàng thái hậu, mẹ vua Tự Đức, sinh ở Gò Công.
- Đoàn Minh Huyên (1807–1856) — người sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, sinh ở vùng Sa Đéc.
- Trương Định (1820–1864) — thủ lĩnh kháng Pháp, lấy Gò Công làm căn cứ và hy sinh tại đây.
- Nguyễn Hữu Huân (Thủ khoa Huân, 1830–1875) — lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp, quê Mỹ Tho.
- Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương, ? –1866) — thủ lĩnh nghĩa quân lập căn cứ ở Đồng Tháp Mười.
- Nguyễn Sinh Sắc (1862–1929) — thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sống những năm cuối đời và mất ở Cao Lãnh.
Cận – hiện đại
- Hồ Biểu Chánh (1885–1958) — nhà văn, người viết tiểu thuyết quốc ngữ tiên phong ở Nam Bộ, sinh ở Gò Công.
- Nguyễn Thị Thập (1908–1996) — lãnh đạo Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Mỹ Tho, sau là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Nam Phương Hoàng hậu (1914–1963) — hoàng hậu của vua Bảo Đại, sinh ở Gò Công.
- Dương Văn Minh (1916–2001) — tướng, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, sinh ở Mỹ Tho.
- Trần Văn Khê (1921–2015) — nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống, sinh ở Vĩnh Kim.
- Lê Thị Hồng Gấm (1951–1970) — nữ anh hùng thời kháng chiến, quê Mỹ Tho.
Kinh tế
Kinh tế dựa nhiều vào nông nghiệp: lúa gạo ở vùng Đồng Tháp Mười, vườn cây ăn trái chuyên canh ở Cái Bè, Cai Lậy, Lai Vung, Cao Lãnh, Chợ Gạo, cùng hoa kiểng Sa Đéc. Tỉnh là vùng nuôi cá tra xuất khẩu trọng điểm dọc sông Tiền, đồng thời có nghề nuôi tôm, nghêu và đánh bắt ở vùng biển Gò Công. Sen trở thành một chuỗi sản phẩm từ hạt, củ, lá đến trà và tơ sen.
Công nghiệp tập trung ở các khu công nghiệp quanh Mỹ Tho, Tân Hương, Long Giang, Sa Đéc, Cao Lãnh, chủ yếu là chế biến thủy sản, chế biến lương thực, thức ăn chăn nuôi, may mặc và giày dép. Cửa khẩu quốc tế Thường Phước và Dinh Bà ở Hồng Ngự, Tân Hồng là cửa ngõ thương mại với Campuchia.
Tỉnh nằm trên hành lang giao thông chính nối Thành phố Hồ Chí Minh với miền Tây: quốc lộ 1, tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương – Mỹ Thuận, quốc lộ 30, quốc lộ 50. Các cầu Mỹ Thuận, Cao Lãnh, Vàm Cống bắc qua các sông lớn. Kênh Chợ Gạo và sông Tiền là các tuyến đường thủy quan trọng nối đồng bằng với Thành phố Hồ Chí Minh.
Du lịch
- Vườn quốc gia Tràm Chim — đất ngập nước Đồng Tháp Mười, khu Ramsar, nơi trú ngụ của sếu đầu đỏ.1Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Tam Nông
- Khu di tích Gò Tháp — di tích văn hóa Óc Eo và đền thờ Thiên Hộ Dương, Đốc binh Kiều.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Đốc Binh Kiều
- Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc — lăng mộ và nhà trưng bày ở Cao Lãnh.3Nằm ở Phường Sa Đéc
- Khu di tích Xẻo Quýt — căn cứ kháng chiến giữa rừng tràm.4Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Mỹ Hiệp
- Làng hoa Sa Đéc và nhà cổ Huỳnh Thủy Lê — vùng hoa kiểng và ngôi nhà gắn với tiểu thuyết Người tình của Marguerite Duras.
- Khu du lịch Gáo Giồng — rừng tràm và sân chim.5Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Phong Mỹ
- Đồng sen Tháp Mười — những cánh đồng sen bạt ngàn mùa hè.
- Chùa Vĩnh Tràng — ngôi chùa thế kỷ 19 ở Mỹ Tho.6Nằm ở Phường Mỹ Phong
- Chợ nổi Cái Bè và các nhà cổ Cái Bè.
- Cù lao Thới Sơn — vườn trái cây và đờn ca tài tử giữa sông Tiền.7Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Phường Thới Sơn
- Di tích Rạch Gầm – Xoài Mút — nơi tưởng niệm chiến thắng năm 1785.
- Khu lăng mộ Trương Định và lăng Hoàng gia ở Gò Công.
- Biển Tân Thành — bãi biển bùn cát ở Gò Công.
Bản đồ du lịch
7 trong 13 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.
Đang tải bản đồ…
- 1Vườn quốc gia Tràm Chim — Xã Tam Nông (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 2Khu di tích Gò Tháp — Xã Đốc Binh Kiều (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 3Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc — Phường Sa Đéc
- 4Khu di tích Xẻo Quýt — Xã Mỹ Hiệp (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 5Khu du lịch Gáo Giồng — Xã Phong Mỹ (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 6Chùa Vĩnh Tràng — Phường Mỹ Phong
- 7Cù lao Thới Sơn — Phường Thới Sơn (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.