Bỏ qua, tới nội dung chính

Tỉnh · Trung du và miền núi phía Bắc

Lạng Sơn

Thông tin tổng quan

Địa lý

Vùng
Trung du và miền núi phía Bắc
Tọa độ địa lý
21°50′ B, 106°29′ Đ
Diện tích
8.310,2 km²Bộ Nội vụ, 2025
Biên giới quốc gia
Trung Quốc
Bờ biển
Không — nằm sâu trong đất liền

Dân cư

Dân số
881.384 ngườiBộ Nội vụ, 2025
Mật độ dân số
106,1 người/km²Bộ Nội vụ, 2025

Hành chính

Loại đơn vị
Tỉnh
Trung tâm hành chính
Lạng Sơn
Hình thành
Giữ nguyên, không sáp nhập
Đơn vị cấp xã
65 — gồm 4 phường, 61 xã
Biển số xe
12
Đầu mã bưu chính
25

Kinh tế

Tăng trưởng GRDP
—Cục Thống kê, 2025

Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.

Số liệu chính

Diện tích

8.310km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 20/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Dân số

881.384người

Xếp hạng toàn quốc: hạng 31/34

Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.

Mật độ dân số

106người/km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 30/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Số đơn vị cấp xã

65đơn vị

Xếp hạng toàn quốc: hạng 27/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Xếp hạng theo dân số

  1. 1Thành phố Hồ Chí Minh14.668.098
  2. 2Hà Nội8.807.523
  3. 3An Giang4.995.214
  4. 4Hải Phòng4.664.124
  5. 5Đồng Nai4.491.408
  6. 6Ninh Bình4.412.264
  7. 7Đồng Tháp4.370.046
  8. 8Thanh Hóa4.320.947
  9. 9Vĩnh Long4.257.581
  10. 10Cần Thơ4.199.788
  11. 11Phú Thọ4.022.493
  12. 31Lạng Sơn881.384

Phường, xã và đặc khu

Lạng Sơn có 65 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh.

  • Phường4
  • Xã61

Đang tải bản đồ…

Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.

Hiển thị 65/65

Danh sách đơn vị hành chính cấp xã
TênLoạiDiện tích (km²)
Ba SơnXã155
Bắc SơnXã80,5
Bằng MạcXã117,8
Bình GiaXã105
Cai KinhXã105,6
Cao LộcXã103,9
Châu SơnXã301,3
Chi LăngXã80,7
Chiến ThắngXã114,3
Công SơnXã84,7
Điềm HeXã103,1
Đình LậpXã164,7
Đoàn KếtXã156,3
Đồng ĐăngXã91,6
Đông KinhPhường54,7
Hoa ThámXã151,8
Hoàng Văn ThụXã114,5
Hội HoanXã117,4
Hồng PhongXã133
Hưng VũXã133,2
Hữu LiênXã122,6
Hữu LũngXã52,9
Kháng ChiếnXã142
Khánh KhêXã93,6
Khuất XáXã124,9
Kiên MộcXã417,8
Kỳ LừaPhường61,7
Lộc BìnhXã79,2
Lợi BácXã139,1
Lương Văn TriPhường31,8
Mẫu SơnXã136
Na DươngXã109,9
Na SầmXã94,5
Nhân LýXã126,9
Nhất HoàXã143,7
Quan SơnXã138,1
Quốc KhánhXã168,2
Quốc ViệtXã118
Quý HoàXã130,3
Tam ThanhPhường27,4
Tân ĐoànXã100,4
Tân ThànhXã121,9
Tân TiếnXã213,4
Tân TriXã137,6
Tân VănXã112,1
Thái BìnhXã305,3
Thất KhêXã100,5
Thiện HoàXã160,3
Thiện LongXã167,3
Thiện TânXã93,1
Thiện ThuậtXã134,5
Thống NhấtXã190,6
Thuỵ HùngXã108,8
Tràng ĐịnhXã118,4
Tri LễXã131,3
Tuấn SơnXã111,2
Vạn LinhXã126,5
Văn LãngXã132,3
Văn QuanXã87,6
Vân NhamXã81,2
Vũ LăngXã112,3
Vũ LễXã92,1
Xuân DươngXã206,7
Yên BìnhXã119,2
Yên PhúcXã117,9

Tổng quan

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới ở vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, có đường biên giới với khu tự trị Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Tỉnh lỵ là thành phố Lạng Sơn — nay là trung tâm hành chính của tỉnh — nằm bên sông Kỳ Cùng. Lạng Sơn là một trong 11 tỉnh, thành phố không thay đổi địa giới trong cuộc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025; tỉnh không được hợp thành từ đơn vị nào khác mà giữ nguyên lãnh thổ của tỉnh Lạng Sơn trước đó.

Từ xưa, "xứ Lạng" là cửa ngõ phía bắc của đất nước, nằm trên con đường bộ chính nối châu thổ sông Hồng với Trung Hoa. Vị trí ấy khiến nơi đây vừa là chiến địa của nhiều cuộc kháng chiến — nổi tiếng nhất là ải Chi Lăng — vừa là đầu mối giao thương với các cửa khẩu Hữu Nghị, Tân Thanh, Đồng Đăng. Lạng Sơn là quê hương của người Nùng và Tày, nổi tiếng với hát Then, lượn, với hồi, na, vịt quay mắc mật, và với cảnh quan núi đá vôi được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu UNESCO năm 2025.

Lịch sử

Thời tiền sử

Vùng núi đá vôi Bắc Sơn là nơi các nhà khảo cổ phát hiện văn hóa Bắc Sơn — một nền văn hóa thời đá mới được đặt theo tên huyện Bắc Sơn — với những công cụ rìu mài lưỡi đặc trưng. Các hang động ở Lạng Sơn còn lưu giữ dấu tích con người và động vật tiền sử, là một phần nội dung của công viên địa chất ngày nay.

Thời Lý – Trần – Lê

Năm 981, quân Tống theo đường bộ tiến vào Đại Cồ Việt; vua Lê Hoàn đánh bại quân Tống, tướng Tống Hầu Nhân Bảo bị giết ở vùng Chi Lăng. Thời Lý, vùng đất này là Lạng Châu; thủ lĩnh địa phương Thân Cảnh Phúc chỉ huy dân binh các dân tộc chống quân Tống trong cuộc chiến 1075 – 1077.

Tháng 10 năm 1427, khi viện binh nhà Minh do Liễu Thăng chỉ huy tiến vào qua cửa ải phía bắc, nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi phục kích ở ải Chi Lăng; Liễu Thăng bị giết ở núi Mã Yên. Thất bại tiếp theo ở Xương Giang buộc nhà Minh rút quân, chấm dứt hai mươi năm đô hộ. Thời Mạc, Lạng Sơn là một trong những nơi họ Mạc dựa vào; dấu tích thành nhà Mạc vẫn còn trên núi gần thành phố.

Thế kỷ 18, Ngô Thì Sĩ làm Đốc trấn Lạng Sơn, cho khai mở, tôn tạo động Nhị Thanh và để lại thơ văn khắc trên vách đá.

Thời Nguyễn và Pháp thuộc

Năm 1831, trấn Lạng Sơn trở thành tỉnh Lạng Sơn. Trong chiến tranh Pháp – Thanh, tháng 3 năm 1885, quân Pháp phải rút khỏi Lạng Sơn sau thất bại ở vùng biên giới; tin này góp phần làm đổ nội các Jules Ferry ở Paris. Sau đó, Pháp chiếm đóng và xây dựng hệ thống đồn binh, đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng. Thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp ở vùng Hữu Lũng những năm 1880.

Ngày 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật tấn công Lạng Sơn từ phía biên giới; nhân lúc Pháp tan rã, ngày 27 tháng 9 năm 1940, nhân dân Bắc Sơn nổi dậy — khởi nghĩa Bắc Sơn. Lực lượng du kích Bắc Sơn sau đó phát triển thành Cứu quốc quân, một trong những tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lạng Sơn cũng là quê của Hoàng Văn Thụ, một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng thời kỳ này.

Chiến dịch Biên giới và sau năm 1954

Trong chiến dịch Biên giới năm 1950, sau thất bại ở Đông Khê – Thất Khê, quân Pháp rút khỏi Lạng Sơn tháng 10 năm 1950. Sau năm 1954, Lạng Sơn trở thành đầu mối giao thông với Trung Quốc; tuyến đường sắt liên vận qua ga Đồng Đăng nối Hà Nội với Bắc Kinh.

Tháng 2 năm 1979, thị xã Lạng Sơn, thị trấn Đồng Đăng và nhiều huyện biên giới bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Từ đầu thập niên 1990, khi quan hệ Việt – Trung bình thường hóa, các cửa khẩu được mở lại và thương mại biên giới phát triển nhanh.

Các lần thay đổi địa giới

  • Cuối năm 1975 — Lạng Sơn hợp nhất với Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng.
  • Cuối năm 1978 — Cao Lạng được chia lại, tái lập tỉnh Lạng Sơn.
  • Năm 2002 — thị xã Lạng Sơn được nâng lên thành phố.

Năm 2025

Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, Lạng Sơn giữ nguyên địa giới, tên gọi và trung tâm hành chính tại Lạng Sơn. Như mọi địa phương khác, cấp huyện bị bãi bỏ, các xã, phường được sắp xếp lại và chính quyền địa phương còn hai cấp. Biển số xe 12 được giữ nguyên. Cũng trong năm 2025, Công viên địa chất Lạng Sơn được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu.

Địa lý

Lạng Sơn nằm ở vùng Đông Bắc. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), phía tây bắc giáp Cao Bằng, phía tây giáp Thái Nguyên (gồm cả Bắc Kạn cũ), phía nam giáp Bắc Ninh (gồm cả Bắc Giang cũ), phía đông nam giáp Quảng Ninh.

Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp và trung bình, xen các thung lũng. Phía tây bắc là cánh cung Bắc Sơn với núi đá vôi; phía đông có khối núi Mẫu Sơn với khí hậu mát lạnh quanh năm; giữa là vùng thung lũng và đồi thấp quanh Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình. Thành phố Lạng Sơn nằm trong một thung lũng giữa núi đá, với các hang động Tam Thanh, Nhị Thanh.

Sông chính là sông Kỳ Cùng, một trong ít con sông của Việt Nam chảy ngược về phía bắc sang Trung Quốc; ngoài ra có sông Bắc Giang ở phía tây và các nhánh đầu nguồn của sông Thương, sông Lục Nam ở phía nam.

Khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, xứ Lạng nổi tiếng giá rét; trên đỉnh Mẫu Sơn và vùng thung lũng có băng giá, sương muối, đôi khi có tuyết. Các khu bảo tồn gồm Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên (Hữu Lũng) trên núi đá vôi và Khu bảo vệ cảnh quan Mẫu Sơn. Thiên tai chủ yếu là rét đậm, rét hại, sương muối, lũ quét, sạt lở đất và lũ trên sông Kỳ Cùng.

Con người

Cư dân Lạng Sơn chủ yếu là người Nùng và người Tày, tiếp đến là người Kinh, người Dao, người Sán Chay, người Hoa, người Mông. Tiếng Tày – Nùng được dùng phổ biến trong đời sống thường ngày; ở các thị trấn biên giới, nhiều người còn nói tiếng Quan thoại hoặc tiếng Quảng Tây phục vụ buôn bán.

Đời sống tín ngưỡng gồm thờ cúng tổ tiên, thờ thổ công, thờ các thần núi, thần sông, với nghi lễ do các thầy Then, Tào, Pựt đảm nhận; thờ Mẫu ở các đền như Bắc Lệ, Kỳ Cùng; Phật giáo ở các chùa Tam Thanh, Thành, Tiên.

Người xứ Lạng thường được mô tả là cởi mở, mến khách, thẳng thắn, giỏi buôn bán — đặc điểm gắn với truyền thống chợ phiên và giao thương biên giới — đồng thời kiên cường trong việc giữ đất biên cương. Câu ca dao "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa / Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh" là lời giới thiệu quen thuộc nhất về Lạng Sơn trong văn hóa dân gian Việt.

Văn hóa

Di sản phi vật thể

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh năm 2019 là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; Lạng Sơn là một trong những vùng Then đặc sắc. Người Nùng, Tày còn có lối hát sli, lượn, phong slư, với lối hát đối đáp nam nữ trong hội xuân.

Lễ hội

  • Lồng tồng (xuống đồng) — lễ hội đầu xuân cầu mùa phổ biến ở hầu hết các xã.
  • Lễ hội đền Bắc Lệ (Hữu Lũng) — một trung tâm thờ Mẫu lớn của vùng.
  • Lễ hội đền Kỳ Cùng và lễ hội đền Tả Phủ ở thành phố Lạng Sơn.
  • Lễ hội chùa Tam Thanh — đầu xuân.
  • Lễ hội ném còn, kéo co, múa sư tử của người Nùng, Tày.

Kiến trúc và nghề truyền thống

Kiến trúc tiêu biểu là nhà sàn của người Tày, như ở làng Quỳnh Sơn (Bắc Sơn), và nhà trình tường của người Nùng với tường đất nện dày ở nhiều bản vùng biên giới. Nghề truyền thống gồm dệt thổ cẩm, đan lát, làm hương, rèn, chế biến tinh dầu hồi và quế.

Ẩm thực

  • Vịt quay mắc mật và lợn quay mắc mật — món quay ướp lá mắc mật đặc trưng của xứ Lạng.
  • Khâu nhục, phở chua, bánh cuốn trứng, bánh áp chao, bánh khảo, xôi trám.
  • Hồi, na Chi Lăng, hồng không hạt Bảo Lâm, quýt Bắc Sơn, đào Mẫu Sơn, thạch đen.
  • Rượu Mẫu Sơn và rượu men lá của người Dao.

Nhân vật tiêu biểu

Thời phong kiến

  • Lê Hoàn (941–1005) — vua Lê Đại Hành, đánh bại quân Tống năm 981, trong đó có trận ở vùng Chi Lăng.
  • Thân Cảnh Phúc — thủ lĩnh Lạng Châu thời Lý, chỉ huy dân binh chống quân Tống những năm 1075 – 1077.
  • Lê Lợi (1385–1433) — lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn, có chiến thắng Chi Lăng năm 1427.
  • Ngô Thì Sĩ (1726–1780) — nhà văn, Đốc trấn Lạng Sơn, người tôn tạo động Nhị Thanh.

Cận – hiện đại

  • Hoàng Đình Kinh (?–1888) — Cai Kinh, thủ lĩnh kháng chiến chống Pháp ở vùng Hữu Lũng.
  • Hoàng Văn Thụ (1909–1944) — nhà cách mạng người Tày, quê Văn Lãng (Lạng Sơn).
  • Lương Văn Tri (1910–1941) — nhà cách mạng, một trong những người chỉ huy du kích Bắc Sơn.
  • Chu Văn Tấn (1910–1984) — tướng lĩnh người Nùng, chỉ huy Cứu quốc quân hình thành từ du kích Bắc Sơn.

Kinh tế

Lạng Sơn sống nhiều nhờ thương mại và dịch vụ biên giới. Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và Đồng Đăng (ga đường sắt), cửa khẩu Tân Thanh, Chi Ma, Cốc Nam cùng nhiều lối mở là những điểm thông quan quan trọng giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt cho nông sản. Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn là khuôn khổ phát triển chính.

Nông, lâm nghiệp gồm trồng hồi, quế, thông, na, hồng, quýt, chè, thuốc lá, lúa và ngô; tinh dầu hồi Lạng Sơn được xuất khẩu. Công nghiệp có khai thác than và nhiệt điện Na Dương (Lộc Bình), vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản.

Giao thông có quốc lộ 1, cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn nối về Hà Nội, tuyến cao tốc Hữu Nghị – Chi Lăng đang xây dựng, các quốc lộ 1B, 4A, 4B, 279, đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng nối với mạng đường sắt Trung Quốc. Tỉnh không có sân bay dân dụng.

Du lịch

  • Động Tam Thanh, Nhị Thanh — hang động giữa thành phố, có chùa trong hang và thơ khắc vách đá.1Nằm ở Phường Tam Thanh
  • Núi Tô Thị — khối đá hình người mẹ bồng con, gắn với truyền thuyết nàng Tô Thị chờ chồng.2Nằm ở Phường Tam Thanh
  • Thành nhà Mạc — tường thành cổ trên núi gần thành phố Lạng Sơn.
  • Ải Chi Lăng — thung lũng hẹp giữa hai dãy núi, chiến địa năm 981 và năm 1427.
  • Mẫu Sơn — vùng núi cao khí hậu lạnh, có băng giá vào mùa đông.3Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Ba Sơn
  • Thung lũng Bắc Sơn — đồng lúa giữa núi đá, làng nhà sàn Quỳnh Sơn, di tích khởi nghĩa Bắc Sơn.
  • Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Lạng Sơn — các điểm di sản địa chất, hóa thạch và hang động.
  • Chợ Kỳ Lừa và chợ Đông Kinh — các chợ lâu đời của thành phố.4Nằm ở Phường Kỳ Lừa
  • Đền Bắc Lệ (Hữu Lũng) — đền thờ Mẫu nổi tiếng.
  • Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên — rừng trên núi đá vôi và bản làng du lịch cộng đồng.
  • Cửa khẩu Hữu Nghị — cửa ngõ biên giới với cột mốc và cổng cửa khẩu.

Bản đồ du lịch

4 trong 11 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.

Đang tải bản đồ…

  1. 1Động Tam Thanh, Nhị Thanh — Phường Tam Thanh
  2. 2Núi Tô Thị — Phường Tam Thanh
  3. 3Mẫu Sơn — Xã Ba Sơn (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  4. 4Chợ Kỳ Lừa và chợ Đông Kinh — Phường Kỳ Lừa

Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.