Bỏ qua, tới nội dung chính

Tỉnh · Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Gia Lai

Thông tin tổng quan

Địa lý

Vùng
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Tọa độ địa lý
13°53′ B, 108°26′ Đ
Diện tích
21.577 km²Bộ Nội vụ, 2025
Biên giới quốc gia
Campuchia
Bờ biển
Có — giáp biển

Dân cư

Dân số
3.583.691 ngườiBộ Nội vụ, 2025
Mật độ dân số
166,1 người/km²Bộ Nội vụ, 2025

Hành chính

Loại đơn vị
Tỉnh
Trung tâm hành chính
Quy Nhơn
Hình thành
Hợp nhất từ Bình Định, Gia Lai (1/7/2025)
Đơn vị cấp xã
135 — gồm 25 phường, 110 xã
Biển số xe
77, 81
Đầu mã bưu chính
55, 61, 62

Kinh tế

Tăng trưởng GRDP
—Cục Thống kê, 2025

Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.

Hình thành từ

Số liệu chính

Diện tích

21.577km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 2/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Dân số

3.583.691người

Xếp hạng toàn quốc: hạng 15/34

Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.

Mật độ dân số

166người/km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 24/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Số đơn vị cấp xã

135đơn vị

Xếp hạng toàn quốc: hạng 4/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Xếp hạng theo dân số

  1. 1Thành phố Hồ Chí Minh14.668.098
  2. 2Hà Nội8.807.523
  3. 3An Giang4.995.214
  4. 4Hải Phòng4.664.124
  5. 5Đồng Nai4.491.408
  6. 6Ninh Bình4.412.264
  7. 7Đồng Tháp4.370.046
  8. 8Thanh Hóa4.320.947
  9. 9Vĩnh Long4.257.581
  10. 10Cần Thơ4.199.788
  11. 11Phú Thọ4.022.493
  12. 15Gia Lai3.583.691

Phường, xã và đặc khu

Gia Lai có 135 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.

Tô màu theo
  • Bình Định58
  • Gia Lai77

Đang tải bản đồ…

Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.

Hiển thị 135/135

Danh sách đơn vị hành chính cấp xã
TênLoạiThuộc tỉnh cũDiện tích (km²)
Al BáXãGia Lai109,1
An BìnhPhườngGia Lai73,1
An HoàXãBình Định101,5
An KhêPhườngGia Lai57,4
An LãoXãBình Định103,9
An LươngXãBình Định66,6
An NhơnPhườngBình Định34,6
An Nhơn BắcPhườngBình Định32
An Nhơn ĐôngPhườngBình Định17,2
An Nhơn NamPhườngBình Định60,1
An Nhơn TâyXãBình Định75,5
An PhúPhườngGia Lai32,5
An ToànXãBình Định295,3
An VinhXãBình Định196,2
AyunXãGia Lai202,2
Ayun PaPhườngGia Lai17,6
Ân HảoXãBình Định95,5
Ân TườngXãBình Định227,5
Bàu CạnXãGia Lai114,3
Biển HồXãGia Lai170,4
Bình AnXãBình Định81
Bình DươngXãBình Định65,8
Bình ĐịnhPhườngBình Định25,2
Bình HiệpXãBình Định161,2
Bình KhêXãBình Định151,8
Bình PhúXãBình Định200,5
Bồng SơnPhườngBình Định81,1
Bờ NgoongXãGia Lai172,1
Canh LiênXãBình Định331,7
Canh VinhXãBình Định258,7
Cát TiếnXãBình Định103,4
Chơ LongXãGia Lai195,1
Chư A ThaiXãGia Lai133,9
Chư KreyXãGia Lai195,6
Chư PăhXãGia Lai103,6
Chư PrôngXãGia Lai124,8
Chư PưhXãGia Lai184,4
Chư SêXãGia Lai124,9
Cửu AnXãGia Lai133
Diên HồngPhườngGia Lai26,7
Đak ĐoaXãGia Lai83,4
Đak PơXãGia Lai223,3
Đak RongXãGia Lai516,3
Đak SơmeiXãGia Lai344,2
Đăk SongXãGia Lai327,5
Đề GiXãBình Định95
Đức CơXãGia Lai124,7
GàoXãGia Lai182,5
Hoà HộiXãBình Định87,1
Hoài ÂnXãBình Định115,7
Hoài NhơnPhườngBình Định40,3
Hoài Nhơn BắcPhườngBình Định89,5
Hoài Nhơn ĐôngPhườngBình Định64,4
Hoài Nhơn NamPhườngBình Định37,7
Hoài Nhơn TâyPhườngBình Định78,2
Hội PhúPhườngGia Lai34,9
Hội SơnXãBình Định182,3
HraXãGia Lai230,9
Ia BăngXãGia Lai116,2
Ia BoòngXãGia Lai196,1
Ia ChiaXãGia Lai172,9
Ia DomXãGia Lai145,4
Ia DơkXãGia Lai100,5
Ia DrehXãGia Lai379,7
Ia GraiXãGia Lai239,8
Ia HiaoXãGia Lai108,4
Ia HrúXãGia Lai241,8
Ia HrungXãGia Lai169,2
Ia KhươlXãGia Lai352
Ia KoXãGia Lai210,7
Ia KráiXãGia Lai307,8
Ia KrêlXãGia Lai146,9
Ia LâuXãGia Lai215
Ia LeXãGia Lai316,9
Ia LyXãGia Lai210,6
Ia MơXãGia Lai435,6
Ia NanXãGia Lai90,3
Ia OXãGia Lai137,4
Ia PaXãGia Lai103,2
Ia PhíXãGia Lai212
Ia PiaXãGia Lai238,6
Ia PnônXãGia Lai114
Ia PúchXãGia Lai267,3
Ia RbolXãGia Lai155
Ia RsaiXãGia Lai473,7
Ia SaoXãGia Lai114,6
Ia TôrXãGia Lai102,3
Ia TulXãGia Lai587,5
KbangXãGia Lai288,8
KDangXãGia Lai178,9
Kim SơnXãBình Định202,7
Kon ChiêngXãGia Lai273,5
Kon GangXãGia Lai145,8
Kông Bơ LaXãGia Lai133,4
Kông ChroXãGia Lai200,8
KrongXãGia Lai311,6
Lơ PangXãGia Lai316,2
Mang YangXãGia Lai173,6
Ngô MâyXãBình Định61,4
Nhơn ChâuXãBình Định3,6
Phù CátXãBình Định84
Phù MỹXãBình Định54,5
Phù Mỹ BắcXãBình Định101
Phù Mỹ ĐôngXãBình Định85,6
Phù Mỹ NamXãBình Định85,1
Phù Mỹ TâyXãBình Định97,5
Phú ThiệnXãGia Lai262,9
Phú TúcXãGia Lai358
PleikuPhườngGia Lai25
Pờ TóXãGia Lai177,9
Quy NhơnPhườngBình Định21,8
Quy Nhơn BắcPhườngBình Định23,7
Quy Nhơn ĐôngPhườngBình Định82
Quy Nhơn NamPhườngBình Định36,4
Quy Nhơn TâyPhườngBình Định118,6
Sơn LangXãGia Lai451
SRóXãGia Lai343,9
Tam QuanPhườngBình Định29,8
Tây SơnXãBình Định97,7
Thống NhấtPhườngGia Lai22,9
Tơ TungXãGia Lai141,4
Tuy PhướcXãBình Định53,4
Tuy Phước BắcXãBình Định37
Tuy Phước ĐôngXãBình Định60,7
Tuy Phước TâyXãBình Định68,8
UarXãGia Lai412,3
Vạn ĐứcXãBình Định111,9
Vân CanhXãBình Định208,8
Vĩnh QuangXãBình Định89,4
Vĩnh SơnXãBình Định328,9
Vĩnh ThạnhXãBình Định164,8
Vĩnh ThịnhXãBình Định133,9
Xuân AnXãBình Định67,6
Ya HộiXãGia Lai215,8
Ya MaXãGia Lai176,9

Tổng quan

Gia Lai là tỉnh trải từ cao nguyên Pleiku ở Bắc Tây Nguyên xuống tới bờ biển Nam Trung Bộ, phía tây giáp Campuchia, phía đông nhìn ra biển Đông. Tỉnh hiện nay được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15, hợp nhất hai tỉnh cũ là Gia Lai và Bình Định; tên Gia Lai được giữ lại, còn trung tâm hành chính đặt tại Quy Nhơn, thủ phủ cũ của Bình Định.

Vùng đất này nối hai thế giới vốn gắn bó với nhau từ lâu: cao nguyên bazan của người Gia Rai và Ba Na, với cồng chiêng, nhà rông và tượng nhà mồ; và dải đồng bằng ven biển từng là kinh đô Vijaya của Chăm Pa, quê hương của phong trào Tây Sơn, đất võ, đất tuồng và bài chòi. Con đường qua đèo An Khê và đèo Mang Yang — nay là quốc lộ 19 — đã nối cao nguyên với biển từ trước khi có tỉnh, và chính ở An Khê (Tây Sơn thượng đạo), anh em Nguyễn Nhạc đã dựng căn cứ đầu tiên.

Lịch sử

Thời tiền sử và cổ đại

Tại thung lũng An Khê, các nhà khảo cổ Việt Nam và Nga đã phát hiện công cụ đá ghè đẽo của người vượn đứng thẳng, niên đại khoảng 800.000 năm — một trong những dấu vết người cổ sớm nhất được biết ở Đông Nam Á. Trên cao nguyên còn nhiều di chỉ đá mới và kim khí; ở đồng bằng ven biển có các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh, tiền thân của văn hóa Chăm sau này.

Gia Lai trước năm 2025

Cao nguyên Pleiku là địa bàn sinh sống lâu đời của người Gia Rai và Ba Na. Người Gia Rai có hai vị thủ lĩnh mang tính thiêng là Pơtao Apui (Vua Lửa) và Pơtao Ia (Vua Nước), từng có quan hệ lễ nghi, trao đổi phẩm vật với các triều đình miền xuôi, trong đó có các chúa Nguyễn và triều Nguyễn — sử Việt gọi là Hỏa Xá và Thủy Xá. Vào thế kỷ 18, vùng An Khê là nơi Nguyễn Nhạc buôn bán với đồng bào Tây Nguyên và gây dựng lực lượng, trở thành Tây Sơn thượng đạo của cuộc khởi nghĩa.

Người Pháp đặt đồn bốt lên cao nguyên từ cuối thế kỷ 19; đầu thập niên 1930, tỉnh Pleiku được tách ra khỏi Kon Tum. Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1954 quân Pháp chịu một tổn thất lớn trên đường 19 ở khu vực đèo Mang Yang. Trong chiến tranh sau đó, Pleiku là một căn cứ quân sự lớn; trận Plei Me và thung lũng Ia Đrăng cuối năm 1965 là những trận đụng độ lớn đầu tiên giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam và quân Mỹ. Giữa tháng 3/1975, sau trận Buôn Ma Thuột, quân đội Việt Nam Cộng hòa rút bỏ Pleiku và Kon Tum theo đường số 7, mở đầu sự tan rã ở Tây Nguyên.

Năm 1976, Gia Lai và Kon Tum hợp thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum; năm 1991 tỉnh này tách trở lại thành Gia Lai và Kon Tum, Pleiku là tỉnh lỵ của Gia Lai.

Bình Định trước năm 2025

Từ khoảng đầu thế kỷ 11, Vijaya (thành Đồ Bàn, hay Chà Bàn) là kinh đô của Chăm Pa. Nhiều lần quân Đại Việt và Chăm Pa giao tranh tại đây; năm 1471, Lê Thánh Tông đánh chiếm Vijaya và lập phủ Hoài Nhơn. Thời chúa Nguyễn, vùng này đổi thành phủ Quy Nhơn; đầu thế kỷ 17, các giáo sĩ Dòng Tên lập cơ sở tại Nước Mặn, nơi việc ghi tiếng Việt bằng chữ Latinh bắt đầu thành hình.

Năm 1771, tại ấp Tây Sơn, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa. Nguyễn Nhạc chiếm thành Quy Nhơn, xưng hoàng đế năm 1778 và đóng đô ở thành Đồ Bàn xây lại — thành Hoàng Đế. Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (1785), lật đổ chúa Trịnh, lên ngôi hoàng đế hiệu Quang Trung năm 1788 và đại phá quân Thanh vào Tết Kỷ Dậu 1789. Năm 1799 Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn và đổi tên thành Bình Định; tỉnh Bình Định được định hình trong cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng.

Cuối thế kỷ 19, Mai Xuân Thưởng lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Bình Định. Thời Pháp, Quy Nhơn trở thành thương cảng. Trong kháng chiến chống Pháp, Bình Định thuộc vùng tự do Liên khu V, và sau Hiệp định Genève 1954, cảng Quy Nhơn là một trong những điểm tập kết ra Bắc. Bình Định được giải phóng cuối tháng 3/1975. Năm 1976, Bình Định và Quảng Ngãi hợp thành tỉnh Nghĩa Bình, đến năm 1989 tách trở lại.

Sáp nhập năm 2025

Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, giảm số đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống 34. Gia Lai và Bình Định hợp thành tỉnh Gia Lai, trung tâm hành chính đặt tại Quy Nhơn. Cùng lúc, cấp huyện được bãi bỏ; chính quyền địa phương chỉ còn hai cấp là tỉnh và xã, phường. Biển số xe của hai tỉnh cũ (81 của Gia Lai, 77 của Bình Định) đều thuộc tỉnh mới.

Địa lý

Gia Lai hiện nay giáp Quảng Ngãi ở phía bắc, Đắk Lắk ở phía nam, Campuchia ở phía tây và biển Đông ở phía đông. Lãnh thổ có ba bậc rõ rệt: cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hà Nừng ở phía tây, lớp đất đỏ bazan rộng là nền của cà phê, hồ tiêu, cao su; dãy Trường Sơn ở giữa, cắt bởi các đèo Mang Yang và An Khê; và dải đồng bằng ven biển hẹp của Bình Định cũ, xen giữa các nhánh núi đâm ra biển.

Sông ngòi chia hai hướng. Phía tây, sông Sê San và sông Ia Đrăng chảy sang Campuchia nhập vào hệ thống Mê Kông; sông Ba bắt nguồn từ vùng Kon Hà Nừng, chảy qua An Khê, Ayun Pa xuống biển ở Tuy Hòa; sông Ayun là phụ lưu lớn của nó. Phía đông có sông Kôn, sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Hà Thanh. Bờ biển nhiều đầm phá và bán đảo: đầm Thị Nại, đầm Trà Ổ, đầm Đề Gi, bán đảo Phương Mai và nhiều đảo nhỏ như Cù Lao Xanh.

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng hai miền khác nhau: cao nguyên có mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô rõ rệt; ven biển mưa nhiều vào thu – đông. Các khu bảo vệ gồm Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Vườn di sản ASEAN), Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng và rừng phòng hộ ven biển. Thiên tai chính là bão và lũ ở đồng bằng, lũ quét ở miền núi, hạn hán trong mùa khô trên cao nguyên.

Con người

Người Kinh đông nhất, tập trung ở đồng bằng Bình Định cũ và các đô thị trên cao nguyên. Người Gia Rai và người Ba Na là hai dân tộc bản địa chính của cao nguyên; ở miền núi Bình Định cũ còn có người Ba Na, người Hrê (An Lão) và người Chăm Hroi (Vân Canh). Sau năm 1975 nhiều người Tày, Nùng, Mường, Thái, Dao từ miền Bắc vào lập nghiệp tại các vùng kinh tế mới.

Lịch sử di cư nối hai miền: từ thời chúa Nguyễn, người Việt từ đồng bằng Bình Định, Quảng Ngãi đã lên An Khê, Pleiku buôn bán, khẩn hoang; nhiều làng Kinh trên cao nguyên mang dấu ấn quê gốc miền biển. Tiếng Việt ở đây mang giọng Bình Định – Quảng Ngãi, nổi tiếng về cách phát âm riêng; người lớn tuổi Bình Định quen xưng "qua" và gọi người đối diện là "bậu". Người Gia Rai nói tiếng thuộc ngữ hệ Nam Đảo, người Ba Na nói tiếng thuộc nhóm Môn – Khmer.

Tín ngưỡng của người Gia Rai và Ba Na là thờ các Yang (thần linh) của trời, núi, sông, lúa; từ thế kỷ 20 nhiều người theo Công giáo và Tin Lành. Người Gia Rai theo chế độ mẫu hệ: con mang họ mẹ, người chồng về ở nhà vợ. Ở đồng bằng phổ biến Phật giáo, thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng thờ Cá Ông của ngư dân; Công giáo có lịch sử sớm, gắn với Nước Mặn và chủng viện Làng Sông.

Về tính cách, người Bình Định thường được mô tả là thẳng thắn, cương trực, trọng nghĩa khí và thượng võ — như câu ca dao quen thuộc "Ai về Bình Định mà coi / Con gái Bình Định múa roi đi quyền", và cách gọi "đất võ trời văn". Đồng bào Tây Nguyên thường được nói tới với tính cộng đồng cao, gắn bó với buôn làng, rừng núi và các lễ hội quanh mùa rẫy.

Văn hóa

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận năm 2005 là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại, có Gia Lai là một trong những vùng lõi. Cồng chiêng gắn với mọi lễ thức của đời người và mùa rẫy: lễ mừng lúa mới, lễ cúng bến nước, lễ mừng nhà rông mới, và đặc biệt là lễ Pơ thi (lễ bỏ mả) của người Gia Rai, khi nhà mồ được dựng lại với hàng tượng gỗ nhà mồ tạc người, thú. Nhà rông Ba Na mái cao vút là trung tâm sinh hoạt của làng; sử thi (hơmon của người Ba Na) được kể truyền miệng trong những đêm dài.

Ở đồng bằng, nghệ thuật Bài chòi dân gian Trung Bộ được UNESCO ghi danh năm 2017 là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bình Định là cái nôi của tuồng (hát bội), gắn với Đào Tấn, và của võ cổ truyền Bình Định, được truyền dạy ở các lò võ An Thái, An Vinh và biểu diễn cùng trống trận Tây Sơn. Lễ hội lớn có lễ hội Đống Đa ở Phú Phong vào mồng 5 Tết, lễ hội cầu ngư ven biển, lễ hội chợ Gò.

Làng nghề truyền thống gồm rượu Bàu Đá (An Nhơn), nón ngựa Phú Gia, bánh tráng, dệt thổ cẩm của người Ba Na, Gia Rai, đan lát, rèn. Kiến trúc tiêu biểu là các tháp Chăm của kinh đô Vijaya — Tháp Đôi, Bánh Ít, Dương Long, Cánh Tiên — bên cạnh nhà rông, nhà dài và nhà mồ trên cao nguyên.

Ẩm thực trải từ núi xuống biển: phở khô Gia Lai (phở hai tô), bò một nắng chấm muối kiến vàng, cơm lam, gà nướng, lá mì xào; ở đồng bằng có bún chả cá Quy Nhơn, bánh xèo tôm nhảy, bánh hỏi cháo lòng, bánh ít lá gai, nem chợ Huyện, tré, chả ram tôm đất và dừa Tam Quan.

Nhân vật tiêu biểu

Thời phong kiến

  • Nguyễn Nhạc (?–1793) — Thủ lĩnh khởi nghĩa Tây Sơn, người lập căn cứ ở An Khê và xưng hoàng đế tại thành Hoàng Đế (Bình Định).
  • Nguyễn Huệ – Quang Trung (1753–1792) — Người ấp Tây Sơn, thiên tài quân sự đánh tan quân Xiêm và quân Thanh.
  • Nguyễn Lữ (?–1787) — Người em trong ba anh em Tây Sơn.
  • Bùi Thị Xuân (?–1802) — Nữ tướng nhà Tây Sơn, người Tây Sơn (Bình Định).
  • Trần Quang Diệu (?–1802) — Danh tướng nhà Tây Sơn, người Bình Định.
  • Đào Tấn (1845–1907) — Người Tuy Phước, nhà soạn tuồng và lý luận tuồng lớn nhất.

Cận – hiện đại

  • Mai Xuân Thưởng (1860–1887) — Thủ lĩnh phong trào Cần Vương ở Bình Định.
  • Tăng Bạt Hổ (1858–1906) — Người Hoài Nhơn, nhà yêu nước gắn với phong trào Đông Du.
  • Đinh Núp (1914–1999) — Anh hùng người Ba Na ở làng Stơr, nguyên mẫu tiểu thuyết Đất nước đứng lên.
  • Nay Der — Người Gia Rai, một trong những lãnh đạo người Tây Nguyên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
  • Xuân Diệu (1916–1985) — Nhà thơ Thơ mới, sinh ở Gò Bồi, Tuy Phước.
  • Hàn Mặc Tử (1912–1940) — Nhà thơ sống những năm cuối đời và mất ở Quy Nhơn.
  • Quách Tấn (1910–1992) — Nhà thơ người Bình Định, thành viên nhóm "Bàn Thành tứ hữu".
  • Yến Lan (1916–1998) — Nhà thơ người An Nhơn, tác giả bài Bến My Lăng.
  • Chế Lan Viên (1920–1989) — Nhà thơ lớn lên ở Bình Định và nổi tiếng từ Quy Nhơn với tập Điêu tàn.
  • Siu Black — Ca sĩ người Gia Rai, giọng hát gắn với âm nhạc Tây Nguyên.

Kinh tế

Phía cao nguyên là vùng nông nghiệp hàng hóa: cà phê, hồ tiêu, cao su, điều, mía đường, sắn, cùng chăn nuôi bò. Hệ thống thủy điện trên sông Sê San — trong đó có Ialy, Sê San 3, Sê San 4 — và trên sông Ba (An Khê – Ka Nak, Ayun Hạ) là nguồn điện quan trọng của miền Trung và Tây Nguyên. Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh mở đường giao thương với Campuchia.

Phía biển có cảng Quy Nhơn, Khu kinh tế Nhơn Hội, các khu công nghiệp Phú Tài, Long Mỹ, ngành chế biến gỗ xuất khẩu, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, khai thác đá granite, cùng du lịch biển. Quy Nhơn cũng phát triển công nghệ thông tin và trung tâm khoa học, hội nghị quốc tế.

Giao thông gồm hai sân bay Pleiku và Phù Cát, đường sắt Bắc – Nam qua ga Diêu Trì, quốc lộ 1, cao tốc Bắc – Nam phía Đông, quốc lộ 19 nối Quy Nhơn với Pleiku và biên giới, quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh) dọc cao nguyên và quốc lộ 25 xuống Phú Yên.

Du lịch

  • Bảo tàng Quang Trung (Phú Phong) — Dựng trên nền nhà cũ của ba anh em Tây Sơn, có biểu diễn võ cổ truyền và trống trận Tây Sơn.
  • Tháp Đôi, tháp Bánh Ít, tháp Dương Long — Những cụm tháp Chăm còn lại của vùng kinh đô Vijaya.1Nằm ở Phường Quy Nhơn
  • Thành Hoàng Đế — Di tích kinh đô Đồ Bàn – thành Hoàng Đế của Nguyễn Nhạc.
  • Chùa Thập Tháp Di Đà — Ngôi chùa cổ ở An Nhơn, dựng trên nền một phế tích tháp Chăm.
  • Kỳ Co – Eo Gió — Bãi biển và vách đá trên bán đảo Phương Mai, xã Nhơn Lý.
  • Ghềnh Ráng – mộ Hàn Mặc Tử — Đồi ven biển Quy Nhơn nơi an táng nhà thơ.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Phường Quy Nhơn Nam
  • Đầm Thị Nại và Cù Lao Xanh — Đầm nước lợ lớn và đảo nhỏ ngoài khơi Quy Nhơn.3Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Tuy Phước
  • Tây Sơn thượng đạo (An Khê) — Di tích căn cứ đầu tiên của khởi nghĩa Tây Sơn.
  • Biển Hồ (T'Nưng) — Hồ nước ngọt trong miệng núi lửa đã tắt, sát khu vực Pleiku.4Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Biển Hồ
  • Núi lửa Chư Đăng Ya — Miệng núi lửa phủ hoa dã quỳ vào cuối năm.
  • Thác Phú Cường — Thác nước đổ trên vách đá bazan gần Chư Sê.
  • Vườn quốc gia Kon Ka Kinh — Rừng nguyên sinh trên vùng núi Kon Hà Nừng.5Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Đak Rong
  • Làng kháng chiến Stơr — Làng Ba Na quê hương anh hùng Núp.
  • Hồ thủy điện Ialy — Hồ chứa trên sông Sê San giữa núi rừng.

Bản đồ du lịch

5 trong 14 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.

Đang tải bản đồ…

  1. 1Tháp Đôi, tháp Bánh Ít, tháp Dương Long — Phường Quy Nhơn
  2. 2Ghềnh Ráng – mộ Hàn Mặc Tử — Phường Quy Nhơn Nam (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  3. 3Đầm Thị Nại và Cù Lao Xanh — Xã Tuy Phước (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  4. 4Biển Hồ (T'Nưng) — Xã Biển Hồ (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  5. 5Vườn quốc gia Kon Ka Kinh — Xã Đak Rong (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)

Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.