Tỉnh · Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Gia Lai
Thông tin tổng quan
Địa lý
- Vùng
- Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
- Tọa độ địa lý
- 13°53′ B, 108°26′ Đ
- Diện tích
- 21.577 km²Bộ Nội vụ, 2025
- Giáp ranh
- Biên giới quốc gia
- Campuchia
- Bờ biển
- Có — giáp biển
Dân cư
- Dân số
- 3.583.691 ngườiBộ Nội vụ, 2025
- Mật độ dân số
- 166,1 người/km²Bộ Nội vụ, 2025
Hành chính
- Loại đơn vị
- Tỉnh
- Trung tâm hành chính
- Quy Nhơn
- Hình thành
- Hợp nhất từ Bình Định, Gia Lai (1/7/2025)
- Đơn vị cấp xã
- 135 — gồm 25 phường, 110 xã
- Biển số xe
- 77, 81
- Đầu mã bưu chính
- 55, 61, 62
Kinh tế
- Tăng trưởng GRDP
- —Cục Thống kê, 2025
Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.
Hình thành từ
Số liệu chính
Diện tích
21.577km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 2/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Dân số
3.583.691người
Xếp hạng toàn quốc: hạng 15/34
Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.
Mật độ dân số
166người/km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 24/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Số đơn vị cấp xã
135đơn vị
Xếp hạng toàn quốc: hạng 4/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Xếp hạng theo dân số
Phường, xã và đặc khu
Gia Lai có 135 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.
- Bình Định58
- Gia Lai77
Đang tải bản đồ…
Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.
Hiển thị 135/135
| Tên | Loại | Thuộc tỉnh cũ | Diện tích (km²) | Mã bưu chính | Mã ĐVHC |
|---|---|---|---|---|---|
| Al Bá | Xã | Gia Lai | 109,1 | ||
| An Bình | Phường | Gia Lai | 73,1 | ||
| An Hoà | Xã | Bình Định | 101,5 | ||
| An Khê | Phường | Gia Lai | 57,4 | ||
| An Lão | Xã | Bình Định | 103,9 | ||
| An Lương | Xã | Bình Định | 66,6 | ||
| An Nhơn | Phường | Bình Định | 34,6 | ||
| An Nhơn Bắc | Phường | Bình Định | 32 | ||
| An Nhơn Đông | Phường | Bình Định | 17,2 | ||
| An Nhơn Nam | Phường | Bình Định | 60,1 | ||
| An Nhơn Tây | Xã | Bình Định | 75,5 | ||
| An Phú | Phường | Gia Lai | 32,5 | ||
| An Toàn | Xã | Bình Định | 295,3 | ||
| An Vinh | Xã | Bình Định | 196,2 | ||
| Ayun | Xã | Gia Lai | 202,2 | ||
| Ayun Pa | Phường | Gia Lai | 17,6 | ||
| Ân Hảo | Xã | Bình Định | 95,5 | ||
| Ân Tường | Xã | Bình Định | 227,5 | ||
| Bàu Cạn | Xã | Gia Lai | 114,3 | ||
| Biển Hồ | Xã | Gia Lai | 170,4 | ||
| Bình An | Xã | Bình Định | 81 | ||
| Bình Dương | Xã | Bình Định | 65,8 | ||
| Bình Định | Phường | Bình Định | 25,2 | ||
| Bình Hiệp | Xã | Bình Định | 161,2 | ||
| Bình Khê | Xã | Bình Định | 151,8 | ||
| Bình Phú | Xã | Bình Định | 200,5 | ||
| Bồng Sơn | Phường | Bình Định | 81,1 | ||
| Bờ Ngoong | Xã | Gia Lai | 172,1 | ||
| Canh Liên | Xã | Bình Định | 331,7 | ||
| Canh Vinh | Xã | Bình Định | 258,7 | ||
| Cát Tiến | Xã | Bình Định | 103,4 | ||
| Chơ Long | Xã | Gia Lai | 195,1 | ||
| Chư A Thai | Xã | Gia Lai | 133,9 | ||
| Chư Krey | Xã | Gia Lai | 195,6 | ||
| Chư Păh | Xã | Gia Lai | 103,6 | ||
| Chư Prông | Xã | Gia Lai | 124,8 | ||
| Chư Pưh | Xã | Gia Lai | 184,4 | ||
| Chư Sê | Xã | Gia Lai | 124,9 | ||
| Cửu An | Xã | Gia Lai | 133 | ||
| Diên Hồng | Phường | Gia Lai | 26,7 | ||
| Đak Đoa | Xã | Gia Lai | 83,4 | ||
| Đak Pơ | Xã | Gia Lai | 223,3 | ||
| Đak Rong | Xã | Gia Lai | 516,3 | ||
| Đak Sơmei | Xã | Gia Lai | 344,2 | ||
| Đăk Song | Xã | Gia Lai | 327,5 | ||
| Đề Gi | Xã | Bình Định | 95 | ||
| Đức Cơ | Xã | Gia Lai | 124,7 | ||
| Gào | Xã | Gia Lai | 182,5 | ||
| Hoà Hội | Xã | Bình Định | 87,1 | ||
| Hoài Ân | Xã | Bình Định | 115,7 | ||
| Hoài Nhơn | Phường | Bình Định | 40,3 | ||
| Hoài Nhơn Bắc | Phường | Bình Định | 89,5 | ||
| Hoài Nhơn Đông | Phường | Bình Định | 64,4 | ||
| Hoài Nhơn Nam | Phường | Bình Định | 37,7 | ||
| Hoài Nhơn Tây | Phường | Bình Định | 78,2 | ||
| Hội Phú | Phường | Gia Lai | 34,9 | ||
| Hội Sơn | Xã | Bình Định | 182,3 | ||
| Hra | Xã | Gia Lai | 230,9 | ||
| Ia Băng | Xã | Gia Lai | 116,2 | ||
| Ia Boòng | Xã | Gia Lai | 196,1 | ||
| Ia Chia | Xã | Gia Lai | 172,9 | ||
| Ia Dom | Xã | Gia Lai | 145,4 | ||
| Ia Dơk | Xã | Gia Lai | 100,5 | ||
| Ia Dreh | Xã | Gia Lai | 379,7 | ||
| Ia Grai | Xã | Gia Lai | 239,8 | ||
| Ia Hiao | Xã | Gia Lai | 108,4 | ||
| Ia Hrú | Xã | Gia Lai | 241,8 | ||
| Ia Hrung | Xã | Gia Lai | 169,2 | ||
| Ia Khươl | Xã | Gia Lai | 352 | ||
| Ia Ko | Xã | Gia Lai | 210,7 | ||
| Ia Krái | Xã | Gia Lai | 307,8 | ||
| Ia Krêl | Xã | Gia Lai | 146,9 | ||
| Ia Lâu | Xã | Gia Lai | 215 | ||
| Ia Le | Xã | Gia Lai | 316,9 | ||
| Ia Ly | Xã | Gia Lai | 210,6 | ||
| Ia Mơ | Xã | Gia Lai | 435,6 | ||
| Ia Nan | Xã | Gia Lai | 90,3 | ||
| Ia O | Xã | Gia Lai | 137,4 | ||
| Ia Pa | Xã | Gia Lai | 103,2 | ||
| Ia Phí | Xã | Gia Lai | 212 | ||
| Ia Pia | Xã | Gia Lai | 238,6 | ||
| Ia Pnôn | Xã | Gia Lai | 114 | ||
| Ia Púch | Xã | Gia Lai | 267,3 | ||
| Ia Rbol | Xã | Gia Lai | 155 | ||
| Ia Rsai | Xã | Gia Lai | 473,7 | ||
| Ia Sao | Xã | Gia Lai | 114,6 | ||
| Ia Tôr | Xã | Gia Lai | 102,3 | ||
| Ia Tul | Xã | Gia Lai | 587,5 | ||
| Kbang | Xã | Gia Lai | 288,8 | ||
| KDang | Xã | Gia Lai | 178,9 | ||
| Kim Sơn | Xã | Bình Định | 202,7 | ||
| Kon Chiêng | Xã | Gia Lai | 273,5 | ||
| Kon Gang | Xã | Gia Lai | 145,8 | ||
| Kông Bơ La | Xã | Gia Lai | 133,4 | ||
| Kông Chro | Xã | Gia Lai | 200,8 | ||
| Krong | Xã | Gia Lai | 311,6 | ||
| Lơ Pang | Xã | Gia Lai | 316,2 | ||
| Mang Yang | Xã | Gia Lai | 173,6 | ||
| Ngô Mây | Xã | Bình Định | 61,4 | ||
| Nhơn Châu | Xã | Bình Định | 3,6 | ||
| Phù Cát | Xã | Bình Định | 84 | ||
| Phù Mỹ | Xã | Bình Định | 54,5 | ||
| Phù Mỹ Bắc | Xã | Bình Định | 101 | ||
| Phù Mỹ Đông | Xã | Bình Định | 85,6 | ||
| Phù Mỹ Nam | Xã | Bình Định | 85,1 | ||
| Phù Mỹ Tây | Xã | Bình Định | 97,5 | ||
| Phú Thiện | Xã | Gia Lai | 262,9 | ||
| Phú Túc | Xã | Gia Lai | 358 | ||
| Pleiku | Phường | Gia Lai | 25 | ||
| Pờ Tó | Xã | Gia Lai | 177,9 | ||
| Quy Nhơn | Phường | Bình Định | 21,8 | ||
| Quy Nhơn Bắc | Phường | Bình Định | 23,7 | ||
| Quy Nhơn Đông | Phường | Bình Định | 82 | ||
| Quy Nhơn Nam | Phường | Bình Định | 36,4 | ||
| Quy Nhơn Tây | Phường | Bình Định | 118,6 | ||
| Sơn Lang | Xã | Gia Lai | 451 | ||
| SRó | Xã | Gia Lai | 343,9 | ||
| Tam Quan | Phường | Bình Định | 29,8 | ||
| Tây Sơn | Xã | Bình Định | 97,7 | ||
| Thống Nhất | Phường | Gia Lai | 22,9 | ||
| Tơ Tung | Xã | Gia Lai | 141,4 | ||
| Tuy Phước | Xã | Bình Định | 53,4 | ||
| Tuy Phước Bắc | Xã | Bình Định | 37 | ||
| Tuy Phước Đông | Xã | Bình Định | 60,7 | ||
| Tuy Phước Tây | Xã | Bình Định | 68,8 | ||
| Uar | Xã | Gia Lai | 412,3 | ||
| Vạn Đức | Xã | Bình Định | 111,9 | ||
| Vân Canh | Xã | Bình Định | 208,8 | ||
| Vĩnh Quang | Xã | Bình Định | 89,4 | ||
| Vĩnh Sơn | Xã | Bình Định | 328,9 | ||
| Vĩnh Thạnh | Xã | Bình Định | 164,8 | ||
| Vĩnh Thịnh | Xã | Bình Định | 133,9 | ||
| Xuân An | Xã | Bình Định | 67,6 | ||
| Ya Hội | Xã | Gia Lai | 215,8 | ||
| Ya Ma | Xã | Gia Lai | 176,9 |
Tổng quan
Gia Lai là tỉnh trải từ cao nguyên Pleiku ở Bắc Tây Nguyên xuống tới bờ biển Nam Trung Bộ, phía tây giáp Campuchia, phía đông nhìn ra biển Đông. Tỉnh hiện nay được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15, hợp nhất hai tỉnh cũ là Gia Lai và Bình Định; tên Gia Lai được giữ lại, còn trung tâm hành chính đặt tại Quy Nhơn, thủ phủ cũ của Bình Định.
Vùng đất này nối hai thế giới vốn gắn bó với nhau từ lâu: cao nguyên bazan của người Gia Rai và Ba Na, với cồng chiêng, nhà rông và tượng nhà mồ; và dải đồng bằng ven biển từng là kinh đô Vijaya của Chăm Pa, quê hương của phong trào Tây Sơn, đất võ, đất tuồng và bài chòi. Con đường qua đèo An Khê và đèo Mang Yang — nay là quốc lộ 19 — đã nối cao nguyên với biển từ trước khi có tỉnh, và chính ở An Khê (Tây Sơn thượng đạo), anh em Nguyễn Nhạc đã dựng căn cứ đầu tiên.
Lịch sử
Thời tiền sử và cổ đại
Tại thung lũng An Khê, các nhà khảo cổ Việt Nam và Nga đã phát hiện công cụ đá ghè đẽo của người vượn đứng thẳng, niên đại khoảng 800.000 năm — một trong những dấu vết người cổ sớm nhất được biết ở Đông Nam Á. Trên cao nguyên còn nhiều di chỉ đá mới và kim khí; ở đồng bằng ven biển có các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh, tiền thân của văn hóa Chăm sau này.
Gia Lai trước năm 2025
Cao nguyên Pleiku là địa bàn sinh sống lâu đời của người Gia Rai và Ba Na. Người Gia Rai có hai vị thủ lĩnh mang tính thiêng là Pơtao Apui (Vua Lửa) và Pơtao Ia (Vua Nước), từng có quan hệ lễ nghi, trao đổi phẩm vật với các triều đình miền xuôi, trong đó có các chúa Nguyễn và triều Nguyễn — sử Việt gọi là Hỏa Xá và Thủy Xá. Vào thế kỷ 18, vùng An Khê là nơi Nguyễn Nhạc buôn bán với đồng bào Tây Nguyên và gây dựng lực lượng, trở thành Tây Sơn thượng đạo của cuộc khởi nghĩa.
Người Pháp đặt đồn bốt lên cao nguyên từ cuối thế kỷ 19; đầu thập niên 1930, tỉnh Pleiku được tách ra khỏi Kon Tum. Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1954 quân Pháp chịu một tổn thất lớn trên đường 19 ở khu vực đèo Mang Yang. Trong chiến tranh sau đó, Pleiku là một căn cứ quân sự lớn; trận Plei Me và thung lũng Ia Đrăng cuối năm 1965 là những trận đụng độ lớn đầu tiên giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam và quân Mỹ. Giữa tháng 3/1975, sau trận Buôn Ma Thuột, quân đội Việt Nam Cộng hòa rút bỏ Pleiku và Kon Tum theo đường số 7, mở đầu sự tan rã ở Tây Nguyên.
Năm 1976, Gia Lai và Kon Tum hợp thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum; năm 1991 tỉnh này tách trở lại thành Gia Lai và Kon Tum, Pleiku là tỉnh lỵ của Gia Lai.
Bình Định trước năm 2025
Từ khoảng đầu thế kỷ 11, Vijaya (thành Đồ Bàn, hay Chà Bàn) là kinh đô của Chăm Pa. Nhiều lần quân Đại Việt và Chăm Pa giao tranh tại đây; năm 1471, Lê Thánh Tông đánh chiếm Vijaya và lập phủ Hoài Nhơn. Thời chúa Nguyễn, vùng này đổi thành phủ Quy Nhơn; đầu thế kỷ 17, các giáo sĩ Dòng Tên lập cơ sở tại Nước Mặn, nơi việc ghi tiếng Việt bằng chữ Latinh bắt đầu thành hình.
Năm 1771, tại ấp Tây Sơn, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa. Nguyễn Nhạc chiếm thành Quy Nhơn, xưng hoàng đế năm 1778 và đóng đô ở thành Đồ Bàn xây lại — thành Hoàng Đế. Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (1785), lật đổ chúa Trịnh, lên ngôi hoàng đế hiệu Quang Trung năm 1788 và đại phá quân Thanh vào Tết Kỷ Dậu 1789. Năm 1799 Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn và đổi tên thành Bình Định; tỉnh Bình Định được định hình trong cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng.
Cuối thế kỷ 19, Mai Xuân Thưởng lãnh đạo phong trào Cần Vương ở Bình Định. Thời Pháp, Quy Nhơn trở thành thương cảng. Trong kháng chiến chống Pháp, Bình Định thuộc vùng tự do Liên khu V, và sau Hiệp định Genève 1954, cảng Quy Nhơn là một trong những điểm tập kết ra Bắc. Bình Định được giải phóng cuối tháng 3/1975. Năm 1976, Bình Định và Quảng Ngãi hợp thành tỉnh Nghĩa Bình, đến năm 1989 tách trở lại.
Sáp nhập năm 2025
Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, giảm số đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống 34. Gia Lai và Bình Định hợp thành tỉnh Gia Lai, trung tâm hành chính đặt tại Quy Nhơn. Cùng lúc, cấp huyện được bãi bỏ; chính quyền địa phương chỉ còn hai cấp là tỉnh và xã, phường. Biển số xe của hai tỉnh cũ (81 của Gia Lai, 77 của Bình Định) đều thuộc tỉnh mới.
Địa lý
Gia Lai hiện nay giáp Quảng Ngãi ở phía bắc, Đắk Lắk ở phía nam, Campuchia ở phía tây và biển Đông ở phía đông. Lãnh thổ có ba bậc rõ rệt: cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hà Nừng ở phía tây, lớp đất đỏ bazan rộng là nền của cà phê, hồ tiêu, cao su; dãy Trường Sơn ở giữa, cắt bởi các đèo Mang Yang và An Khê; và dải đồng bằng ven biển hẹp của Bình Định cũ, xen giữa các nhánh núi đâm ra biển.
Sông ngòi chia hai hướng. Phía tây, sông Sê San và sông Ia Đrăng chảy sang Campuchia nhập vào hệ thống Mê Kông; sông Ba bắt nguồn từ vùng Kon Hà Nừng, chảy qua An Khê, Ayun Pa xuống biển ở Tuy Hòa; sông Ayun là phụ lưu lớn của nó. Phía đông có sông Kôn, sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Hà Thanh. Bờ biển nhiều đầm phá và bán đảo: đầm Thị Nại, đầm Trà Ổ, đầm Đề Gi, bán đảo Phương Mai và nhiều đảo nhỏ như Cù Lao Xanh.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng hai miền khác nhau: cao nguyên có mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô rõ rệt; ven biển mưa nhiều vào thu – đông. Các khu bảo vệ gồm Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Vườn di sản ASEAN), Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng và rừng phòng hộ ven biển. Thiên tai chính là bão và lũ ở đồng bằng, lũ quét ở miền núi, hạn hán trong mùa khô trên cao nguyên.
Con người
Người Kinh đông nhất, tập trung ở đồng bằng Bình Định cũ và các đô thị trên cao nguyên. Người Gia Rai và người Ba Na là hai dân tộc bản địa chính của cao nguyên; ở miền núi Bình Định cũ còn có người Ba Na, người Hrê (An Lão) và người Chăm Hroi (Vân Canh). Sau năm 1975 nhiều người Tày, Nùng, Mường, Thái, Dao từ miền Bắc vào lập nghiệp tại các vùng kinh tế mới.
Lịch sử di cư nối hai miền: từ thời chúa Nguyễn, người Việt từ đồng bằng Bình Định, Quảng Ngãi đã lên An Khê, Pleiku buôn bán, khẩn hoang; nhiều làng Kinh trên cao nguyên mang dấu ấn quê gốc miền biển. Tiếng Việt ở đây mang giọng Bình Định – Quảng Ngãi, nổi tiếng về cách phát âm riêng; người lớn tuổi Bình Định quen xưng "qua" và gọi người đối diện là "bậu". Người Gia Rai nói tiếng thuộc ngữ hệ Nam Đảo, người Ba Na nói tiếng thuộc nhóm Môn – Khmer.
Tín ngưỡng của người Gia Rai và Ba Na là thờ các Yang (thần linh) của trời, núi, sông, lúa; từ thế kỷ 20 nhiều người theo Công giáo và Tin Lành. Người Gia Rai theo chế độ mẫu hệ: con mang họ mẹ, người chồng về ở nhà vợ. Ở đồng bằng phổ biến Phật giáo, thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng thờ Cá Ông của ngư dân; Công giáo có lịch sử sớm, gắn với Nước Mặn và chủng viện Làng Sông.
Về tính cách, người Bình Định thường được mô tả là thẳng thắn, cương trực, trọng nghĩa khí và thượng võ — như câu ca dao quen thuộc "Ai về Bình Định mà coi / Con gái Bình Định múa roi đi quyền", và cách gọi "đất võ trời văn". Đồng bào Tây Nguyên thường được nói tới với tính cộng đồng cao, gắn bó với buôn làng, rừng núi và các lễ hội quanh mùa rẫy.
Văn hóa
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận năm 2005 là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại, có Gia Lai là một trong những vùng lõi. Cồng chiêng gắn với mọi lễ thức của đời người và mùa rẫy: lễ mừng lúa mới, lễ cúng bến nước, lễ mừng nhà rông mới, và đặc biệt là lễ Pơ thi (lễ bỏ mả) của người Gia Rai, khi nhà mồ được dựng lại với hàng tượng gỗ nhà mồ tạc người, thú. Nhà rông Ba Na mái cao vút là trung tâm sinh hoạt của làng; sử thi (hơmon của người Ba Na) được kể truyền miệng trong những đêm dài.
Ở đồng bằng, nghệ thuật Bài chòi dân gian Trung Bộ được UNESCO ghi danh năm 2017 là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bình Định là cái nôi của tuồng (hát bội), gắn với Đào Tấn, và của võ cổ truyền Bình Định, được truyền dạy ở các lò võ An Thái, An Vinh và biểu diễn cùng trống trận Tây Sơn. Lễ hội lớn có lễ hội Đống Đa ở Phú Phong vào mồng 5 Tết, lễ hội cầu ngư ven biển, lễ hội chợ Gò.
Làng nghề truyền thống gồm rượu Bàu Đá (An Nhơn), nón ngựa Phú Gia, bánh tráng, dệt thổ cẩm của người Ba Na, Gia Rai, đan lát, rèn. Kiến trúc tiêu biểu là các tháp Chăm của kinh đô Vijaya — Tháp Đôi, Bánh Ít, Dương Long, Cánh Tiên — bên cạnh nhà rông, nhà dài và nhà mồ trên cao nguyên.
Ẩm thực trải từ núi xuống biển: phở khô Gia Lai (phở hai tô), bò một nắng chấm muối kiến vàng, cơm lam, gà nướng, lá mì xào; ở đồng bằng có bún chả cá Quy Nhơn, bánh xèo tôm nhảy, bánh hỏi cháo lòng, bánh ít lá gai, nem chợ Huyện, tré, chả ram tôm đất và dừa Tam Quan.
Nhân vật tiêu biểu
Thời phong kiến
- Nguyễn Nhạc (?–1793) — Thủ lĩnh khởi nghĩa Tây Sơn, người lập căn cứ ở An Khê và xưng hoàng đế tại thành Hoàng Đế (Bình Định).
- Nguyễn Huệ – Quang Trung (1753–1792) — Người ấp Tây Sơn, thiên tài quân sự đánh tan quân Xiêm và quân Thanh.
- Nguyễn Lữ (?–1787) — Người em trong ba anh em Tây Sơn.
- Bùi Thị Xuân (?–1802) — Nữ tướng nhà Tây Sơn, người Tây Sơn (Bình Định).
- Trần Quang Diệu (?–1802) — Danh tướng nhà Tây Sơn, người Bình Định.
- Đào Tấn (1845–1907) — Người Tuy Phước, nhà soạn tuồng và lý luận tuồng lớn nhất.
Cận – hiện đại
- Mai Xuân Thưởng (1860–1887) — Thủ lĩnh phong trào Cần Vương ở Bình Định.
- Tăng Bạt Hổ (1858–1906) — Người Hoài Nhơn, nhà yêu nước gắn với phong trào Đông Du.
- Đinh Núp (1914–1999) — Anh hùng người Ba Na ở làng Stơr, nguyên mẫu tiểu thuyết Đất nước đứng lên.
- Nay Der — Người Gia Rai, một trong những lãnh đạo người Tây Nguyên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
- Xuân Diệu (1916–1985) — Nhà thơ Thơ mới, sinh ở Gò Bồi, Tuy Phước.
- Hàn Mặc Tử (1912–1940) — Nhà thơ sống những năm cuối đời và mất ở Quy Nhơn.
- Quách Tấn (1910–1992) — Nhà thơ người Bình Định, thành viên nhóm "Bàn Thành tứ hữu".
- Yến Lan (1916–1998) — Nhà thơ người An Nhơn, tác giả bài Bến My Lăng.
- Chế Lan Viên (1920–1989) — Nhà thơ lớn lên ở Bình Định và nổi tiếng từ Quy Nhơn với tập Điêu tàn.
- Siu Black — Ca sĩ người Gia Rai, giọng hát gắn với âm nhạc Tây Nguyên.
Kinh tế
Phía cao nguyên là vùng nông nghiệp hàng hóa: cà phê, hồ tiêu, cao su, điều, mía đường, sắn, cùng chăn nuôi bò. Hệ thống thủy điện trên sông Sê San — trong đó có Ialy, Sê San 3, Sê San 4 — và trên sông Ba (An Khê – Ka Nak, Ayun Hạ) là nguồn điện quan trọng của miền Trung và Tây Nguyên. Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh mở đường giao thương với Campuchia.
Phía biển có cảng Quy Nhơn, Khu kinh tế Nhơn Hội, các khu công nghiệp Phú Tài, Long Mỹ, ngành chế biến gỗ xuất khẩu, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, khai thác đá granite, cùng du lịch biển. Quy Nhơn cũng phát triển công nghệ thông tin và trung tâm khoa học, hội nghị quốc tế.
Giao thông gồm hai sân bay Pleiku và Phù Cát, đường sắt Bắc – Nam qua ga Diêu Trì, quốc lộ 1, cao tốc Bắc – Nam phía Đông, quốc lộ 19 nối Quy Nhơn với Pleiku và biên giới, quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh) dọc cao nguyên và quốc lộ 25 xuống Phú Yên.
Du lịch
- Bảo tàng Quang Trung (Phú Phong) — Dựng trên nền nhà cũ của ba anh em Tây Sơn, có biểu diễn võ cổ truyền và trống trận Tây Sơn.
- Tháp Đôi, tháp Bánh Ít, tháp Dương Long — Những cụm tháp Chăm còn lại của vùng kinh đô Vijaya.1Nằm ở Phường Quy Nhơn
- Thành Hoàng Đế — Di tích kinh đô Đồ Bàn – thành Hoàng Đế của Nguyễn Nhạc.
- Chùa Thập Tháp Di Đà — Ngôi chùa cổ ở An Nhơn, dựng trên nền một phế tích tháp Chăm.
- Kỳ Co – Eo Gió — Bãi biển và vách đá trên bán đảo Phương Mai, xã Nhơn Lý.
- Ghềnh Ráng – mộ Hàn Mặc Tử — Đồi ven biển Quy Nhơn nơi an táng nhà thơ.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Phường Quy Nhơn Nam
- Đầm Thị Nại và Cù Lao Xanh — Đầm nước lợ lớn và đảo nhỏ ngoài khơi Quy Nhơn.3Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Tuy Phước
- Tây Sơn thượng đạo (An Khê) — Di tích căn cứ đầu tiên của khởi nghĩa Tây Sơn.
- Biển Hồ (T'Nưng) — Hồ nước ngọt trong miệng núi lửa đã tắt, sát khu vực Pleiku.4Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Biển Hồ
- Núi lửa Chư Đăng Ya — Miệng núi lửa phủ hoa dã quỳ vào cuối năm.
- Thác Phú Cường — Thác nước đổ trên vách đá bazan gần Chư Sê.
- Vườn quốc gia Kon Ka Kinh — Rừng nguyên sinh trên vùng núi Kon Hà Nừng.5Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Đak Rong
- Làng kháng chiến Stơr — Làng Ba Na quê hương anh hùng Núp.
- Hồ thủy điện Ialy — Hồ chứa trên sông Sê San giữa núi rừng.
Bản đồ du lịch
5 trong 14 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.
Đang tải bản đồ…
- 1Tháp Đôi, tháp Bánh Ít, tháp Dương Long — Phường Quy Nhơn
- 2Ghềnh Ráng – mộ Hàn Mặc Tử — Phường Quy Nhơn Nam (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 3Đầm Thị Nại và Cù Lao Xanh — Xã Tuy Phước (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 4Biển Hồ (T'Nưng) — Xã Biển Hồ (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 5Vườn quốc gia Kon Ka Kinh — Xã Đak Rong (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.