Tỉnh · Đồng bằng sông Hồng
Hưng Yên
Thông tin tổng quan
Địa lý
- Vùng
- Đồng bằng sông Hồng
- Tọa độ địa lý
- 20°34′ B, 106°18′ Đ
- Diện tích
- 2.514,9 km²Bộ Nội vụ, 2025
- Biên giới quốc gia
- Không
- Bờ biển
- Có — giáp biển
Dân cư
- Dân số
- 3.567.943 ngườiBộ Nội vụ, 2025
- Mật độ dân số
- 1.418,7 người/km²Bộ Nội vụ, 2025
Hành chính
- Loại đơn vị
- Tỉnh
- Trung tâm hành chính
- Hưng Yên
- Hình thành
- Hợp nhất từ Hưng Yên, Thái Bình (1/7/2025)
- Đơn vị cấp xã
- 104 — gồm 11 phường, 93 xã
- Biển số xe
- 17, 89
- Đầu mã bưu chính
- 06, 17
Kinh tế
- Tăng trưởng GRDP
- —Cục Thống kê, 2025
Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.
Hình thành từ
Số liệu chính
Diện tích
2.515km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 34/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Dân số
3.567.943người
Xếp hạng toàn quốc: hạng 16/34
Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.
Mật độ dân số
1.419người/km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 4/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Số đơn vị cấp xã
104đơn vị
Xếp hạng toàn quốc: hạng 12/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Xếp hạng theo dân số
Phường, xã và đặc khu
Hưng Yên có 104 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.
- Hưng Yên39
- Thái Bình65
Đang tải bản đồ…
Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.
Hiển thị 104/104
| Tên | Loại | Thuộc tỉnh cũ | Diện tích (km²) | Mã bưu chính | Mã ĐVHC |
|---|---|---|---|---|---|
| A Sào | Xã | Thái Bình | 20,5 | ||
| Ái Quốc | Xã | Thái Bình | 15 | ||
| Ân Thi | Xã | Hưng Yên | 24,4 | ||
| Bắc Đông Hưng | Xã | Thái Bình | 20,8 | ||
| Bắc Đông Quan | Xã | Thái Bình | 20,7 | ||
| Bắc Thái Ninh | Xã | Thái Bình | 23,1 | ||
| Bắc Thuỵ Anh | Xã | Thái Bình | 17,4 | ||
| Bắc Tiên Hưng | Xã | Thái Bình | 28 | ||
| Bình Định | Xã | Thái Bình | 24,5 | ||
| Bình Nguyên | Xã | Thái Bình | 17,2 | ||
| Bình Thanh | Xã | Thái Bình | 22,4 | ||
| Châu Ninh | Xã | Hưng Yên | 22,2 | ||
| Chí Minh | Xã | Hưng Yên | 20,7 | ||
| Diên Hà | Xã | Thái Bình | 27,3 | ||
| Đại Đồng | Xã | Hưng Yên | 25,7 | ||
| Đoàn Đào | Xã | Hưng Yên | 22,4 | ||
| Đồng Bằng | Xã | Thái Bình | 20 | ||
| Đồng Châu | Xã | Thái Bình | 30,7 | ||
| Đông Hưng | Xã | Thái Bình | 25 | ||
| Đông Quan | Xã | Thái Bình | 23,6 | ||
| Đông Thái Ninh | Xã | Thái Bình | 31,1 | ||
| Đông Thuỵ Anh | Xã | Thái Bình | 34,9 | ||
| Đông Tiền Hải | Xã | Thái Bình | 38,6 | ||
| Đông Tiên Hưng | Xã | Thái Bình | 16,3 | ||
| Đức Hợp | Xã | Hưng Yên | 22,4 | ||
| Đường Hào | Phường | Hưng Yên | 25,6 | ||
| Hiệp Cường | Xã | Hưng Yên | 28,4 | ||
| Hoàn Long | Xã | Hưng Yên | 19,6 | ||
| Hoàng Hoa Thám | Xã | Hưng Yên | 31,9 | ||
| Hồng Châu | Phường | Hưng Yên | 15,4 | ||
| Hồng Minh | Xã | Thái Bình | 23,3 | ||
| Hồng Quang | Xã | Hưng Yên | 25,5 | ||
| Hồng Vũ | Xã | Thái Bình | 18,8 | ||
| Hưng Hà | Xã | Thái Bình | 38,9 | ||
| Hưng Phú | Xã | Thái Bình | 45,1 | ||
| Khoái Châu | Xã | Hưng Yên | 29,4 | ||
| Kiến Xương | Xã | Thái Bình | 36,7 | ||
| Lạc Đạo | Xã | Hưng Yên | 22,2 | ||
| Lê Lợi | Xã | Thái Bình | 21,4 | ||
| Lê Quý Đôn | Xã | Thái Bình | 21,7 | ||
| Long Hưng | Xã | Thái Bình | 33,7 | ||
| Lương Bằng | Xã | Hưng Yên | 29,1 | ||
| Mễ Sở | Xã | Hưng Yên | 17,5 | ||
| Minh Thọ | Xã | Thái Bình | 22,1 | ||
| Mỹ Hào | Phường | Hưng Yên | 28,4 | ||
| Nam Cường | Xã | Thái Bình | 28,8 | ||
| Nam Đông Hưng | Xã | Thái Bình | 16,3 | ||
| Nam Thái Ninh | Xã | Thái Bình | 26,4 | ||
| Nam Thuỵ Anh | Xã | Thái Bình | 17,4 | ||
| Nam Tiền Hải | Xã | Thái Bình | 22,6 | ||
| Nam Tiên Hưng | Xã | Thái Bình | 23,9 | ||
| Nghĩa Dân | Xã | Hưng Yên | 23,3 | ||
| Nghĩa Trụ | Xã | Hưng Yên | 22,8 | ||
| Ngọc Lâm | Xã | Thái Bình | 19,8 | ||
| Nguyễn Du | Xã | Thái Bình | 16,8 | ||
| Nguyễn Trãi | Xã | Hưng Yên | 30,7 | ||
| Nguyễn Văn Linh | Xã | Hưng Yên | 20,9 | ||
| Ngự Thiên | Xã | Thái Bình | 22,4 | ||
| Như Quỳnh | Xã | Hưng Yên | 27,3 | ||
| Phạm Ngũ Lão | Xã | Hưng Yên | 29,3 | ||
| Phố Hiến | Phường | Hưng Yên | 21,5 | ||
| Phụ Dực | Xã | Thái Bình | 33,2 | ||
| Phụng Công | Xã | Hưng Yên | 14,6 | ||
| Quang Hưng | Xã | Hưng Yên | 25,7 | ||
| Quang Lịch | Xã | Thái Bình | 14,9 | ||
| Quỳnh An | Xã | Thái Bình | 26 | ||
| Quỳnh Phụ | Xã | Thái Bình | 32 | ||
| Sơn Nam | Phường | Hưng Yên | 23,6 | ||
| Tân Hưng | Xã | Hưng Yên | 19,2 | ||
| Tân Thuận | Xã | Thái Bình | 22,1 | ||
| Tân Tiến | Xã | Thái Bình | 19,7 | ||
| Tây Thái Ninh | Xã | Thái Bình | 16,6 | ||
| Tây Thuỵ Anh | Xã | Thái Bình | 16,7 | ||
| Tây Tiền Hải | Xã | Thái Bình | 17,6 | ||
| Thái Bình | Phường | Thái Bình | 28 | ||
| Thái Ninh | Xã | Thái Bình | 27,6 | ||
| Thái Thuỵ | Xã | Thái Bình | 35,5 | ||
| Thần Khê | Xã | Thái Bình | 20,4 | ||
| Thuỵ Anh | Xã | Thái Bình | 20,1 | ||
| Thư Trì | Xã | Thái Bình | 21 | ||
| Thư Vũ | Xã | Thái Bình | 25 | ||
| Thượng Hồng | Phường | Hưng Yên | 25,4 | ||
| Tiền Hải | Xã | Thái Bình | 33 | ||
| Tiên Hoa | Xã | Hưng Yên | 21,7 | ||
| Tiên Hưng | Xã | Thái Bình | 22,4 | ||
| Tiên La | Xã | Thái Bình | 22,5 | ||
| Tiên Lữ | Xã | Hưng Yên | 19,5 | ||
| Tiên Tiến | Xã | Hưng Yên | 25,8 | ||
| Tống Trân | Xã | Hưng Yên | 20,7 | ||
| Trà Giang | Xã | Thái Bình | 21,3 | ||
| Trà Lý | Phường | Thái Bình | 20,9 | ||
| Trần Hưng Đạo | Phường | Thái Bình | 9,3 | ||
| Trần Lãm | Phường | Thái Bình | 34,6 | ||
| Triệu Việt Vương | Xã | Hưng Yên | 27,2 | ||
| Vạn Xuân | Xã | Thái Bình | 30,4 | ||
| Văn Giang | Xã | Hưng Yên | 23 | ||
| Việt Tiến | Xã | Hưng Yên | 20,2 | ||
| Việt Yên | Xã | Hưng Yên | 24 | ||
| Vũ Phúc | Phường | Thái Bình | 24 | ||
| Vũ Quý | Xã | Thái Bình | 15,1 | ||
| Vũ Thư | Xã | Thái Bình | 29,1 | ||
| Vũ Tiên | Xã | Thái Bình | 32,7 | ||
| Xuân Trúc | Xã | Hưng Yên | 20 | ||
| Yên Mỹ | Xã | Hưng Yên | 33,1 |
Tổng quan
Hưng Yên là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, trải từ ven đô phía đông nam Hà Nội xuống tới bờ biển vịnh Bắc Bộ. Tỉnh hiện nay được lập ngày 1 tháng 7 năm 2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15 của Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất toàn bộ hai tỉnh cũ là Hưng Yên và Thái Bình, giữ tên Hưng Yên và đặt trung tâm hành chính tại Hưng Yên. Sông Hồng, sông Luộc và sông Trà Lý chảy qua lòng tỉnh, và sông Hồng — từng là ranh giới phía tây của Thái Bình — nay nằm gọn trong địa giới một tỉnh.
Vùng đất này được biết đến trước hết như một miền quê lúa thâm canh lâu đời, với những làng xã cổ còn giữ đình, chùa, văn chỉ. Phía Hưng Yên cũ nổi tiếng với thương cảng Phố Hiến thế kỷ 17 và nhãn lồng tiến vua; phía Thái Bình cũ được coi là một vùng phát tích của nhà Trần, là quê của nhà bác học Lê Quý Đôn và là một cái nôi của nghệ thuật chèo. Ngày nay, dải phía bắc của tỉnh thuộc vành đai công nghiệp quanh Hà Nội, còn dải ven biển phía đông có khu kinh tế, nhiệt điện và nuôi trồng thủy sản.
Lịch sử
Từ thời dựng nước đến hết thời Bắc thuộc
Vùng hạ lưu sông Hồng được bồi đắp tương đối muộn; dải đất phía đông, gần biển, chỉ dần thành hình trong vài nghìn năm gần đây. Truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, một trong "tứ bất tử" của tín ngưỡng dân gian Việt, gắn với bãi Tự Nhiên và vùng đầm Dạ Trạch bên sông Hồng thuộc Khoái Châu. Giữa thế kỷ 6, Triệu Quang Phục lấy đầm Dạ Trạch làm căn cứ, dùng lối đánh du kích trong đầm lầy để chống quân Lương, về sau xưng Triệu Việt Vương. Vào thế kỷ 10, khi đất nước rơi vào loạn mười hai sứ quân, Trần Lãm xưng Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu — vùng thành phố Thái Bình sau này — và là người đã nuôi dạy Đinh Bộ Lĩnh trước khi ông dẹp loạn.
Thời Lý – Trần – Lê
Dưới thời Trần, đất Thái Bình thuộc phủ Long Hưng. Dòng họ Trần có nhiều mộ phần, tông miếu ở hương Tinh Cương (nay thuộc Hưng Hà): khu Tam Đường là nơi đặt lăng của Trần Thừa — thân phụ vua Trần Thái Tông — cùng một số vua Trần đầu tiên. Vì thế Thái Bình cùng với Thiên Trường (Nam Định) được xem là vùng đất phát tích của triều đại đã ba lần đánh bại quân Nguyên Mông. Trên đất Hưng Yên, danh tướng Phạm Ngũ Lão người làng Phù Ủng là một trong những tướng giỏi nhất của Trần Hưng Đạo.
Thời Lê, vùng này thuộc trấn Sơn Nam, rồi Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ. Đây là vùng khoa bảng thịnh: Thái Bình có Lê Quý Đôn đỗ Hội nguyên rồi Bảng nhãn năm 1752, Hưng Yên có nhiều làng khoa bảng như Thổ Hoàng (Ân Thi) hay Phú Thị (Văn Giang).
Phố Hiến
Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 17, Phố Hiến bên bờ tả sông Hồng — gần trấn lỵ Sơn Nam — là nơi tàu thuyền ngoại quốc phải dừng lại khai báo trước khi ngược sông lên Thăng Long. Thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản cùng các công ty Đông Ấn của Hà Lan và Anh từng lập thương điếm hoặc buôn bán ở đây; người Hoa lập hội quán, người Việt lập phố phường quanh bến. Câu "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến" lưu lại thời thịnh vượng ấy. Sang thế kỷ 18, sông Hồng bồi lấp và đổi dòng, chính sách ngoại thương thu hẹp, thương cảng suy dần; dấu tích còn lại là hệ thống đền, chùa, hội quán quanh thành phố Hưng Yên ngày nay.
Thời Nguyễn và thời Pháp thuộc
Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, tỉnh Hưng Yên được lập, với tỉnh lỵ đặt gần Phố Hiến cũ. Năm 1828, doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức khẩn hoang vùng bãi bồi ven biển, lập nên huyện Tiền Hải — một vùng đất mới đắp đê lấn biển mà về sau thuộc Thái Bình.
Người Pháp lập tỉnh Thái Bình năm 1890, tách từ một phần Nam Định và Hải Dương. Hai tỉnh là nơi diễn ra nhiều phong trào chống Pháp: khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo dựa vào vùng lau sậy Hưng Yên những năm 1880; Hoàng Hoa Thám, thủ lĩnh khởi nghĩa Yên Thế, sinh ra ở Tiên Lữ. Những năm 1920 – 1930, Thái Bình là một trung tâm của phong trào cách mạng, nổi bật với cuộc đấu tranh của nông dân Tiền Hải năm 1930.
Nạn đói năm Ất Dậu 1944 – 1945 tàn phá nặng nề các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trong đó Thái Bình là một trong những nơi bị thiệt hại khốc liệt nhất — một ký ức còn được lưu giữ trong văn học và lời kể của người dân.
Từ 1945 đến 2025
Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều vùng của hai tỉnh bị chiếm đóng và trở thành chiến trường du kích. Thời kỳ chiến tranh phá hoại, Thái Bình được biết đến là địa phương đi đầu trong phong trào thâm canh lúa, đồng thời đưa nhiều lớp thanh niên ra mặt trận.
Năm 1968, Hưng Yên hợp nhất với Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng. Gần ba mươi năm sau, theo Nghị quyết của Quốc hội tháng 11 năm 1996, Hải Hưng được chia lại, và tỉnh Hưng Yên được tái lập từ ngày 1 tháng 1 năm 1997. Thái Bình, trái lại, hầu như giữ nguyên địa giới từ khi được lập năm 1890 cho đến năm 2025.
Hợp nhất năm 2025
Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, Hưng Yên và Thái Bình hợp nhất thành tỉnh Hưng Yên mới; tên Hưng Yên được giữ lại và trung tâm hành chính đặt tại Hưng Yên. Cùng thời điểm, cấp huyện bị bãi bỏ trên cả nước, chính quyền địa phương chỉ còn hai cấp: tỉnh và xã, phường. Biển số xe của cả hai tỉnh cũ — 89 (Hưng Yên) và 17 (Thái Bình) — vẫn được giữ.
Địa lý
Tỉnh Hưng Yên mới nằm giữa châu thổ sông Hồng. Phía tây và tây bắc giáp Hà Nội, phía bắc giáp Bắc Ninh và Hải Phòng (gồm cả Hải Dương cũ), phía nam và tây nam giáp Ninh Bình (gồm cả Hà Nam và Nam Định cũ), phía đông là vịnh Bắc Bộ.
Địa hình gần như hoàn toàn bằng phẳng, không có đồi núi, độ cao thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Mạng lưới sông dày: sông Hồng chảy theo hướng tây bắc – đông nam qua giữa tỉnh; sông Luộc nối sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình và từng là ranh giới giữa Thái Bình với Hưng Yên và Hải Dương; sông Trà Lý tách từ sông Hồng chảy ra biển; ngoài ra còn sông Hóa ở phía bắc Thái Bình cũ và hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải ở phía Hưng Yên cũ.
Bờ biển thuộc Thái Bình cũ chạy từ cửa Thái Bình xuống cửa Ba Lạt, xen giữa là các cửa Diêm Điền, Trà Lý, Lân. Đây là bờ biển bồi tụ với bãi triều, rừng ngập mặn và các cồn cát như Cồn Vành và Cồn Đen. Phần ven biển của Thái Thụy và Tiền Hải nằm trong Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng được UNESCO công nhận năm 2004, cùng với vùng ven biển Nam Định cũ.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh do gió mùa đông bắc, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều. Thiên tai chính là bão và áp thấp nhiệt đới từ biển Đông đổ bộ vào dải ven biển, nước dâng do bão, lũ sông Hồng và úng ngập nội đồng; hệ thống đê sông, đê biển giữ vai trò sống còn đối với vùng đất thấp này. Xâm nhập mặn ở các cửa sông và sạt lở bờ biển cũng là những vấn đề thường trực.
Con người
Cư dân của tỉnh chủ yếu là người Kinh, có cộng đồng nhỏ người Hoa và các dân tộc khác sinh sống, làm việc, đặc biệt ở các khu công nghiệp. Tiếng nói thuộc phương ngữ Bắc Bộ, khá gần giọng Hà Nội; ở một số vùng nông thôn Thái Bình còn những nét phát âm và từ ngữ địa phương riêng.
Đời sống tín ngưỡng phong phú: thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng, thờ Mẫu, đạo Phật, và một cộng đồng Công giáo đông đảo ở nhiều vùng Thái Bình cũ — Thái Bình là trụ sở của một giáo phận. Hưng Yên cũ cũng có nhiều làng Công giáo lâu đời.
Lịch sử di dân của vùng gắn với khẩn hoang lấn biển (Tiền Hải từ thế kỷ 19) và với những đợt người Thái Bình, Hưng Yên đi lập nghiệp xa: đi làm đồn điền thời Pháp thuộc, rồi các đợt đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Tây Bắc, Tây Nguyên và miền Nam sau năm 1960 và sau năm 1975. Vì thế, khắp nơi trong nước đều có những làng xóm mà người ta quen gọi là "làng Thái Bình".
Về tính cách, người Thái Bình thường được nhắc đến với tiếng "chịu thương chịu khó", cần cù, tiết kiệm, gắn bó với đồng ruộng và hiếu học — "quê lúa", "đất học" là những cách gọi quen thuộc. Người Hưng Yên được cho là chăm chỉ, khéo buôn bán, giữ nếp làng, và có truyền thống khoa cử của các làng văn hiến quanh Phố Hiến. Cả hai vùng đều được nói đến như những miền quê có truyền thống cách mạng và đóng góp nhiều người cho các cuộc kháng chiến.
Văn hóa
Nghệ thuật dân gian
Thái Bình được coi là một cái nôi của nghệ thuật chèo. Làng Khuốc (Đông Hưng) có phường chèo lâu đời, gắn với nhiều nghệ nhân nổi tiếng. Múa rối nước vẫn được các phường Nguyên Xá và Đông Các (Đông Hưng) diễn trên ao làng. Hưng Yên cũ có hát trống quân, hát chèo và ca trù ở một số làng. Ca trù — được UNESCO ghi danh năm 2009 vào danh sách cần bảo vệ khẩn cấp — và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt — ghi danh năm 2016 — đều có mặt trong đời sống của vùng.
Lễ hội
- Lễ hội đền Trần (Hưng Hà) — tưởng niệm các vua Trần ở khu lăng mộ và tông miếu Tam Đường.
- Lễ hội chùa Keo (Vũ Thư) — gắn với thiền sư Không Lộ, nổi tiếng với các trò thi bơi chải, thi nấu cơm, thi kéo lửa.
- Lễ hội đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ) — một trung tâm thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình và hầu đồng.
- Lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung ở đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch (Khoái Châu).
- Lễ hội Phố Hiến — gắn với hệ thống di tích đền Mẫu, đền Trần, chùa Chuông.
- Lễ hội đền Tiên La (Hưng Hà) — thờ nữ tướng Vũ Thị Thục thời Hai Bà Trưng.
Kiến trúc và làng nghề
Kiến trúc tiêu biểu là chùa Keo (Thái Bình), một quần thể chùa gỗ thế kỷ 17 với gác chuông ba tầng mái làm hoàn toàn bằng mộng gỗ, cùng các ngôi đình, chùa, văn miếu của Phố Hiến như Văn miếu Xích Đằng, chùa Chuông, đền Mẫu, đền Thiên Hậu. Làng Nôm (Văn Lâm) còn giữ cảnh quan một làng Bắc Bộ với cầu đá, chợ làng, đình chùa.
Làng nghề có chạm bạc Đồng Xâm (Kiến Xương), dệt đũi Nam Cao (Kiến Xương), dệt chiếu cói ở các huyện ven biển Thái Bình, đúc đồng Lộng Thượng (Văn Lâm), làm tương Bần (Mỹ Hào), cùng nhiều làng trồng nhãn, trồng cây cảnh ven sông Hồng.
Ẩm thực
- Nhãn lồng Hưng Yên — đặc sản từng được chọn tiến vua.
- Gà Đông Tảo (Khoái Châu) — giống gà chân to quý hiếm.
- Tương Bần, chả gà Tiểu Quan (Phù Cừ), sen Nam Hồ ở Phố Hiến.
- Bánh cáy làng Nguyễn (Đông Hưng), canh cá Quỳnh Côi, gỏi nhệch ven biển Thái Thụy, bánh đa cua Thái Bình.
Nhân vật tiêu biểu
Thời phong kiến
- Triệu Quang Phục (?–571) — Triệu Việt Vương, lấy đầm Dạ Trạch (Khoái Châu) làm căn cứ chống quân Lương.
- Trần Lãm — sứ quân Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình), người nuôi dạy Đinh Bộ Lĩnh.
- Phạm Ngũ Lão (1255–1320) — danh tướng nhà Trần, người làng Phù Ủng (Ân Thi, Hưng Yên).
- Nguyễn Trung Ngạn (1289–1370) — đại thần, nhà luật học thời Trần, người Thổ Hoàng (Ân Thi, Hưng Yên).
- Đoàn Thị Điểm (1705–1748) — nữ sĩ, người thường được coi là dịch giả bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm, quê Hưng Yên.
- Lê Hữu Trác (1724–1791) — Hải Thượng Lãn Ông, danh y lớn nhất thời trung đại, sinh ở Liêu Xá (Yên Mỹ, Hưng Yên).
- Lê Quý Đôn (1726–1784) — nhà bác học, sử gia, người Diên Hà (Hưng Hà, Thái Bình).
- Nguyễn Công Trứ (1778–1858) — người Hà Tĩnh, doanh điền sứ khẩn hoang và lập huyện Tiền Hải.
Cận – hiện đại
- Nguyễn Thiện Thuật (1844–1926) — thủ lĩnh khởi nghĩa Bãi Sậy, người Mỹ Hào (Hưng Yên).
- Hoàng Hoa Thám (?–1913) — thủ lĩnh khởi nghĩa Yên Thế, sinh ở Dị Chế (Tiên Lữ, Hưng Yên).
- Chu Mạnh Trinh (1862–1905) — nhà thơ, tác giả bài Hương Sơn phong cảnh ca, người Phú Thị (Văn Giang).
- Nguyễn Công Hoan (1903–1977) — nhà văn hiện thực, người Xuân Cầu (Văn Giang, Hưng Yên).
- Nguyễn Đức Cảnh (1908–1932) — nhà cách mạng, người tổ chức phong trào công nhân, quê Thái Thụy (Thái Bình).
- Tô Hiệu (1912–1944) — nhà cách mạng, người Xuân Cầu (Văn Giang, Hưng Yên).
- Hoàng Văn Thái (1915–1986) — đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, người Tiền Hải (Thái Bình).
- Nguyễn Văn Linh (1915–1998) — Tổng Bí thư thời kỳ đầu Đổi mới, quê Yên Mỹ (Hưng Yên).
- Phạm Tuân (sinh 1947) — phi công, người Việt Nam và người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ năm 1980, quê Kiến Xương (Thái Bình).
Kinh tế
Kinh tế của tỉnh dựa trên ba trụ: nông nghiệp thâm canh, công nghiệp và thủy sản ven biển. Đồng ruộng Thái Bình cũ là vùng trồng lúa trọng điểm của đồng bằng sông Hồng; phía Hưng Yên cũ chuyển nhiều diện tích sang cây ăn quả (nhãn, vải, cam, chuối), cây cảnh và rau màu phục vụ thị trường Hà Nội.
Công nghiệp tập trung ở hai cực. Cực phía bắc, giáp Hà Nội, có các khu công nghiệp Phố Nối, Thăng Long II và nhiều khu khác dọc quốc lộ 5 và cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, với điện tử, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm. Cực phía đông là Khu kinh tế Thái Bình ở Thái Thụy và Tiền Hải, gắn với Trung tâm điện lực Thái Bình, mỏ khí Tiền Hải trên đất liền và các mỏ khí ngoài khơi.
Ven biển phát triển nuôi ngao, tôm, cá và đánh bắt xa bờ, với cảng cá Diêm Điền. Giao thông chính gồm cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, quốc lộ 5, 10, 39, 38 và tuyến đường bộ ven biển; tỉnh không có sân bay, hành khách dùng sân bay Nội Bài và Cát Bi.
Du lịch
- Quần thể di tích Phố Hiến — đền Mẫu, đền Trần, chùa Chuông, Văn miếu Xích Đằng, đền Thiên Hậu và các hội quán người Hoa, dấu tích thương cảng thế kỷ 17.1Nằm ở Phường Hồng Châu
- Khu di tích đền Trần (Hưng Hà) — lăng mộ và tông miếu dòng họ Trần.
- Chùa Keo (Vũ Thư) — quần thể chùa gỗ thế kỷ 17 với gác chuông nổi tiếng.2Nằm ở Xã Vũ Tiên
- Khu tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (Yên Mỹ) — nơi tưởng nhớ danh y.
- Đền Đa Hòa và đền Dạ Trạch (Khoái Châu) — thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung bên sông Hồng.
- Làng Nôm (Văn Lâm) — làng cổ với cầu đá, chợ làng, đình chùa.
- Đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ) và đền Tiên La (Hưng Hà) — hai di tích tín ngưỡng lớn của Thái Bình cũ.
- Cồn Vành, Cồn Đen và bãi biển Đồng Châu — bãi bồi, rừng ngập mặn và chim di cư thuộc khu dự trữ sinh quyển.
- Làng chạm bạc Đồng Xâm (Kiến Xương) — làng nghề kim hoàn truyền thống.
Bản đồ du lịch
2 trong 9 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.
Đang tải bản đồ…
- 1Quần thể di tích Phố Hiến — Phường Hồng Châu
- 2Chùa Keo — Xã Vũ Tiên
Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.