Tỉnh · Đông Nam Bộ
Tây Ninh
Thông tin tổng quan
Địa lý
- Vùng
- Đông Nam Bộ
- Tọa độ địa lý
- 11°29′ B, 106°08′ Đ
- Diện tích
- 8.536,9 km²Bộ Nội vụ, 2025
- Giáp ranh
- Biên giới quốc gia
- Campuchia
- Bờ biển
- Không — nằm sâu trong đất liền
Dân cư
- Dân số
- 3.254.170 ngườiBộ Nội vụ, 2025
- Mật độ dân số
- 381,2 người/km²Bộ Nội vụ, 2025
Hành chính
- Loại đơn vị
- Tỉnh
- Trung tâm hành chính
- Tân An
- Hình thành
- Hợp nhất từ Tây Ninh, Long An (1/7/2025)
- Đơn vị cấp xã
- 96 — gồm 14 phường, 82 xã
- Biển số xe
- 62, 70
- Đầu mã bưu chính
- 80, 82, 83
Kinh tế
- Tăng trưởng GRDP
- —Cục Thống kê, 2025
Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.
Hình thành từ
Số liệu chính
Diện tích
8.537km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 18/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Dân số
3.254.170người
Xếp hạng toàn quốc: hạng 18/34
Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.
Mật độ dân số
381người/km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 13/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Số đơn vị cấp xã
96đơn vị
Xếp hạng toàn quốc: hạng 19/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Xếp hạng theo dân số
Phường, xã và đặc khu
Tây Ninh có 96 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.
- Tây Ninh36
- Long An60
Đang tải bản đồ…
Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.
Hiển thị 96/96
| Tên | Loại | Thuộc tỉnh cũ | Diện tích (km²) | Mã bưu chính | Mã ĐVHC |
|---|---|---|---|---|---|
| An Lục Long | Xã | Long An | 33,8 | ||
| An Ninh | Xã | Long An | 57,7 | ||
| An Tịnh | Phường | Tây Ninh | 78,4 | ||
| Bến Cầu | Xã | Tây Ninh | 112 | ||
| Bến Lức | Xã | Long An | 48,8 | ||
| Bình Đức | Xã | Long An | 51,2 | ||
| Bình Hiệp | Xã | Long An | 123,7 | ||
| Bình Hoà | Xã | Long An | 117,9 | ||
| Bình Minh | Phường | Tây Ninh | 105,4 | ||
| Bình Thành | Xã | Long An | 132,4 | ||
| Cần Đước | Xã | Long An | 48,6 | ||
| Cần Giuộc | Xã | Long An | 60,4 | ||
| Cầu Khởi | Xã | Tây Ninh | 90,5 | ||
| Châu Thành | Xã | Tây Ninh | 93,4 | ||
| Dương Minh Châu | Xã | Tây Ninh | 177,2 | ||
| Đông Thành | Xã | Long An | 130,9 | ||
| Đức Hoà | Xã | Long An | 63,3 | ||
| Đức Huệ | Xã | Long An | 134,1 | ||
| Đức Lập | Xã | Long An | 59,4 | ||
| Gia Lộc | Phường | Tây Ninh | 50,3 | ||
| Gò Dầu | Phường | Tây Ninh | 43,1 | ||
| Hảo Đước | Xã | Tây Ninh | 93,8 | ||
| Hậu Nghĩa | Xã | Long An | 66,5 | ||
| Hậu Thạnh | Xã | Long An | 93,8 | ||
| Hiệp Hoà | Xã | Long An | 55 | ||
| Hoà Hội | Xã | Tây Ninh | 111,3 | ||
| Hoà Khánh | Xã | Long An | 59,8 | ||
| Hoà Thành | Phường | Tây Ninh | 20,4 | ||
| Hưng Điền | Xã | Long An | 131,2 | ||
| Hưng Thuận | Xã | Tây Ninh | 102,7 | ||
| Khánh Hậu | Phường | Long An | 22,8 | ||
| Khánh Hưng | Xã | Long An | 145,1 | ||
| Kiến Tường | Phường | Long An | 26,3 | ||
| Long An | Phường | Long An | 34,9 | ||
| Long Cang | Xã | Long An | 31,7 | ||
| Long Chữ | Xã | Tây Ninh | 92 | ||
| Long Hoa | Phường | Tây Ninh | 56 | ||
| Long Hựu | Xã | Long An | 36,9 | ||
| Long Thuận | Xã | Tây Ninh | 65,6 | ||
| Lộc Ninh | Xã | Tây Ninh | 90,3 | ||
| Lương Hoà | Xã | Long An | 62,2 | ||
| Mộc Hoá | Xã | Long An | 135,6 | ||
| Mỹ An | Xã | Long An | 32,8 | ||
| Mỹ Hạnh | Xã | Long An | 63,4 | ||
| Mỹ Lệ | Xã | Long An | 39,9 | ||
| Mỹ Lộc | Xã | Long An | 32,7 | ||
| Mỹ Quý | Xã | Long An | 133 | ||
| Mỹ Thạnh | Xã | Long An | 63,7 | ||
| Mỹ Yên | Xã | Long An | 29,2 | ||
| Nhơn Hoà Lập | Xã | Long An | 109,8 | ||
| Nhơn Ninh | Xã | Long An | 92,7 | ||
| Nhựt Tảo | Xã | Long An | 36,5 | ||
| Ninh Điền | Xã | Tây Ninh | 152,2 | ||
| Ninh Thạnh | Phường | Tây Ninh | 52,7 | ||
| Phước Chỉ | Xã | Tây Ninh | 82,8 | ||
| Phước Lý | Xã | Long An | 27,4 | ||
| Phước Thạnh | Xã | Tây Ninh | 70,9 | ||
| Phước Vinh | Xã | Tây Ninh | 165,1 | ||
| Phước Vĩnh Tây | Xã | Long An | 34,4 | ||
| Rạch Kiến | Xã | Long An | 24,5 | ||
| Tầm Vu | Xã | Long An | 43,5 | ||
| Tân An | Phường | Long An | 25,5 | ||
| Tân Biên | Xã | Tây Ninh | 244,7 | ||
| Tân Châu | Xã | Tây Ninh | 54,8 | ||
| Tân Đông | Xã | Tây Ninh | 134,3 | ||
| Tân Hoà | Xã | Tây Ninh | 416,8 | ||
| Tân Hội | Xã | Tây Ninh | 143,2 | ||
| Tân Hưng | Xã | Long An | 107,8 | ||
| Tân Lân | Xã | Long An | 38,9 | ||
| Tân Lập | Xã | Tây Ninh | 257,6 | ||
| Tân Long | Xã | Long An | 149,1 | ||
| Tân Ninh | Phường | Tây Ninh | 21,4 | ||
| Tân Phú | Xã | Tây Ninh | 103,1 | ||
| Tân Tập | Xã | Long An | 60,2 | ||
| Tân Tây | Xã | Long An | 113,5 | ||
| Tân Thành | Xã | Tây Ninh | 255 | ||
| Tân Thạnh | Xã | Long An | 118,5 | ||
| Tân Trụ | Xã | Long An | 30,8 | ||
| Thạnh Bình | Xã | Tây Ninh | 174,9 | ||
| Thanh Điền | Phường | Tây Ninh | 30,7 | ||
| Thạnh Đức | Xã | Tây Ninh | 99,1 | ||
| Thạnh Hoá | Xã | Long An | 108,2 | ||
| Thạnh Lợi | Xã | Long An | 96,5 | ||
| Thạnh Phước | Xã | Long An | 144,6 | ||
| Thủ Thừa | Xã | Long An | 50,5 | ||
| Thuận Mỹ | Xã | Long An | 53,4 | ||
| Trà Vong | Xã | Tây Ninh | 88,7 | ||
| Trảng Bàng | Phường | Tây Ninh | 37 | ||
| Truông Mít | Xã | Tây Ninh | 74,4 | ||
| Tuyên Bình | Xã | Long An | 137,8 | ||
| Tuyên Thạnh | Xã | Long An | 108,8 | ||
| Vàm Cỏ | Xã | Long An | 40,7 | ||
| Vĩnh Châu | Xã | Long An | 144,3 | ||
| Vĩnh Công | Xã | Long An | 24,7 | ||
| Vĩnh Hưng | Xã | Long An | 95,3 | ||
| Vĩnh Thạnh | Xã | Long An | 118,7 |
Tổng quan
Tỉnh Tây Ninh nằm ở phía tây bắc Thành phố Hồ Chí Minh, trải từ vùng đồi gò và rừng thưa ven biên giới Campuchia xuống tới đồng bằng trũng của Đồng Tháp Mười và lưu vực hai sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Vùng đất này được biết đến với núi Bà Đen — ngọn núi cao nhất Nam Bộ, với Tòa Thánh Cao Đài, trung tâm của một tôn giáo ra đời ngay tại đây, với các cửa khẩu đường bộ sang Campuchia, và với những cánh đồng lúa, mía, thanh long nối liền vành đai công nghiệp phía tây Thành phố Hồ Chí Minh.
Tỉnh hiện nay được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15, trên cơ sở hợp nhất tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An. Tên Tây Ninh được giữ lại, còn trung tâm hành chính đặt tại Tân An, tỉnh lỵ cũ của Long An. Hai tỉnh vốn có chung dòng Vàm Cỏ Đông và chung một lịch sử khai phá Nam Bộ; nay chúng trở thành một đơn vị trải dài từ chân núi Bà Đen đến gần cửa sông Soài Rạp.
Lịch sử
Thời cổ đại
Trước khi người Việt đến, vùng đất này nằm trong không gian của văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, rồi về sau thuộc Chân Lạp. Ở Long An cũ, khu di tích Bình Tả (Đức Hòa) với các gò kiến trúc gạch cổ là một trong những dấu tích Óc Eo quan trọng ở miền Đông và Đồng Tháp Mười. Ở Tây Ninh cũ, các tháp gạch cổ Bình Thạnh và Chót Mạt cho thấy nơi đây từng là địa bàn cư trú lâu đời của các cư dân cổ trước khi có làng xã người Việt.
Thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn
Từ cuối thế kỷ 17, khi chúa Nguyễn lập phủ Gia Định (1698), lưu dân người Việt theo các dòng sông tiến dần lên vùng Vàm Cỏ. Vùng Tân An khai phá sớm hơn nhờ gần Sài Gòn và Mỹ Tho; vùng Tây Ninh ở xa hơn, còn nhiều rừng, có người Khmer sinh sống, và trong một thời gian dài là vùng biên viễn. Dưới thời vua Minh Mạng, phủ Tây Ninh được lập năm 1836 thuộc tỉnh Gia Định; phủ Tân An cũng thuộc Gia Định. Tướng Nguyễn Huỳnh Đức, người đất Tân An, là một trong những công thần nổi tiếng của buổi đầu triều Nguyễn; lăng mộ ông còn ở Khánh Hậu.
Kháng chiến chống Pháp thế kỷ 19
Khi Pháp đánh chiếm Gia Định (1859), vùng Tân An – Cần Giuộc trở thành một trong những chiến trường đầu tiên. Ngày 10/12/1861, tại vàm Nhựt Tảo trên sông Vàm Cỏ Đông, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu chiến Pháp Espérance. Cũng trong năm 1861, trận tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc đã đi vào văn học qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Câu nói của Nguyễn Trung Trực còn được truyền tụng: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây."
Ở Tây Ninh, sau khi ba tỉnh miền Đông rơi vào tay Pháp, Trương Quyền — con trai Trương Định — liên kết với thủ lĩnh người Khmer Pu Kombo tiếp tục kháng chiến trong những năm 1860, lấy rừng Tây Ninh làm căn cứ. Đây là một trong những liên minh Việt – Khmer chống Pháp sớm nhất.
Thời Pháp thuộc
Người Pháp lập các tỉnh Tây Ninh và Tân An của xứ Nam Kỳ. Tây Ninh có đồn điền cao su và là vùng biên giới thưa dân; Tân An là vùng lúa gạo gần Sài Gòn. Năm 1926, đạo Cao Đài được khai sáng tại Tây Ninh — một tôn giáo bản địa dung hợp Phật, Lão, Nho với tín ngưỡng dân gian và cả tư tưởng phương Tây. Tòa Thánh Tây Ninh ở Long Hoa khởi công từ thập niên 1930 và khánh thành năm 1955, đến nay vẫn là trung tâm của đạo. Trong cùng thời kỳ, phong trào cộng sản phát triển mạnh ở Long An; Võ Văn Tần, người Đức Hòa, là một trong những lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ và cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940.
Hai cuộc kháng chiến 1945 – 1975
Sau Cách mạng tháng Tám, Trần Văn Giàu — người Long An — đứng đầu chính quyền cách mạng ở Nam Bộ trong những ngày đầu. Trong kháng chiến chống Pháp, Đồng Tháp Mười và vùng rừng Tây Ninh là căn cứ lớn của kháng chiến Nam Bộ.
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập tỉnh Long An trên cơ sở hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn, cùng tỉnh Kiến Tường ở vùng Mộc Hóa; năm 1963 lập thêm tỉnh Hậu Nghĩa ở vùng Đức Hòa – Củ Chi – Trảng Bàng. Long An được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng tám chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".
Trong kháng chiến chống Mỹ, vùng rừng Tân Biên giáp biên giới Campuchia là nơi đặt Trung ương Cục miền Nam — cơ quan chỉ đạo cao nhất của cách mạng ở miền Nam. Năm 1967, quân đội Mỹ mở cuộc hành quân lớn Junction City nhằm vào căn cứ này. Ngày 8/6/1972, bức ảnh em bé Phan Thị Kim Phúc bỏng bom napalm chạy trên đường ở Trảng Bàng trở thành một trong những hình ảnh nổi tiếng nhất về cuộc chiến.
Từ 1975 đến 2025
Năm 1976, tỉnh Long An được lập lại từ Long An, Kiến Tường và một phần Hậu Nghĩa, tỉnh lỵ Tân An; tỉnh Tây Ninh giữ tên, nhận thêm vùng Trảng Bàng. Cuối thập niên 1970, các huyện biên giới Tây Ninh phải hứng chịu những cuộc tấn công qua biên giới của quân Khmer Đỏ trước khi chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ.
- Tây Ninh (trước 2025) phát triển nông nghiệp cây công nghiệp, du lịch tâm linh và kinh tế cửa khẩu Mộc Bài.
- Long An (trước 2025) trở thành cửa ngõ nối Thành phố Hồ Chí Minh với Đồng bằng sông Cửu Long, có vành đai khu công nghiệp lớn ở Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc.
Hợp nhất năm 2025
Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025, từ ngày 1/7/2025 hai tỉnh Tây Ninh và Long An hợp nhất thành tỉnh Tây Ninh, trung tâm hành chính đặt tại Tân An. Cấp huyện bị bãi bỏ; chính quyền địa phương còn hai cấp là tỉnh và xã, phường. Nhiều địa danh cũ như Trảng Bàng, Gò Dầu, Hòa Thành, Bến Lức, Cần Giuộc, Kiến Tường vẫn còn trong tên gọi các xã, phường của tỉnh mới; biển số xe 70 (Tây Ninh cũ) và 62 (Long An cũ) vẫn được dùng.
Địa lý
Tỉnh Tây Ninh mới giáp Vương quốc Campuchia ở phía tây và tây bắc, Thành phố Hồ Chí Minh ở phía đông, tỉnh Đồng Nai ở phía đông bắc, tỉnh Đồng Tháp ở phía nam và tây nam. Địa hình chuyển tiếp từ vùng đồi gò đất xám của miền Đông Nam Bộ xuống đồng bằng thấp của Đồng bằng sông Cửu Long.
Phía bắc là vùng đồi thấp và bình nguyên, nổi bật giữa đồng bằng là núi Bà Đen (986 m) cùng hai núi Phụng và núi Heo liền kề. Phía nam và tây nam là vùng trũng Đồng Tháp Mười với đất phèn, rừng tràm và mùa nước nổi hằng năm.
Hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây chảy song song theo hướng tây bắc – đông nam, hợp lưu thành sông Vàm Cỏ rồi đổ vào cửa Soài Rạp. Sông Sài Gòn chảy dọc phía đông bắc. Hồ Dầu Tiếng, một trong những hồ thủy lợi lớn nhất cả nước, nằm ở phía đông bắc tỉnh, cung cấp nước tưới cho cả một vùng rộng.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nóng quanh năm, chia hai mùa mưa – khô rõ rệt. Ít chịu bão, nhưng vùng phía nam chịu ngập lũ theo mùa nước nổi, xâm nhập mặn vào mùa khô ở hạ lưu Vàm Cỏ, và sạt lở bờ sông.
Các khu bảo vệ gồm Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát với rừng khộp và đất ngập nước ven biên giới, khu rừng văn hóa – lịch sử Chàng Riệc, và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, khu Ramsar ở vùng Đồng Tháp Mười.
Con người
Phần lớn cư dân là người Kinh. Người Khmer sinh sống lâu đời ở các vùng ven biên giới; người Hoa tập trung ở các thị trấn, chợ cũ; và Tây Ninh có một cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo. Giọng nói thuộc phương ngữ Nam Bộ, mềm và nhẹ, với vốn từ chung của vùng sông nước.
Đời sống tín ngưỡng ở đây đặc biệt đa dạng. Đạo Cao Đài có số tín đồ đông đảo nhất ở Tây Ninh cũ, nơi đặt Tòa Thánh; Phật giáo, Công giáo, Hòa Hảo, Hồi giáo cùng hiện diện. Tín ngưỡng thờ Bà — Linh Sơn Thánh Mẫu trên núi Bà Đen — thu hút người hành hương từ khắp Nam Bộ. Ở các làng quê Long An, đình làng với lễ Kỳ Yên và tục thờ cúng tổ tiên vẫn là nền tảng của sinh hoạt cộng đồng.
Vùng đất này là nơi lưu dân từ miền Trung và miền Bắc đến khai phá qua nhiều đợt, từ thế kỷ 17 đến những đợt di cư sau 1954 và sau 1975; gần đây nhiều lao động từ khắp nơi đến làm việc ở các khu công nghiệp Long An.
Người dân nơi đây thường được mô tả với tính cách chung của người Nam Bộ: hiền hòa, chân chất, hiếu khách và trọng nghĩa. Người Tây Ninh hay được nhắc đến với nếp sống mộ đạo, điềm đạm, gắn với không khí của Tòa Thánh và núi Bà. Người Long An được nhớ tới qua truyền thống "trung dũng kiên cường" trong chiến tranh và sự cần cù của những người trồng lúa trên đất phèn Đồng Tháp Mười.
Văn hóa
Đạo Cao Đài với nghi lễ, y phục trắng, cờ ba màu và âm nhạc lễ nhạc riêng là nét văn hóa không nơi nào khác có. Các đại lễ tại Tòa Thánh như lễ Đức Chí Tôn đầu năm và Hội Yến Diêu Trì Cung vào rằm tháng Tám âm lịch quy tụ đông đảo tín đồ. Lễ hội núi Bà vào mùa xuân là một trong những lễ hội hành hương lớn nhất Nam Bộ.
Đờn ca tài tử Nam Bộ — được UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2013 — vẫn sống trong các buổi họp mặt ở xóm ấp cả hai vùng. Kiến trúc dân gian còn lại tiêu biểu là nhà trăm cột ở Cần Đước, một ngôi nhà gỗ cổ với hệ cột dày đặc và chạm khắc tinh xảo.
Nghề thủ công nổi tiếng nhất là bánh tráng phơi sương Trảng Bàng: bánh tráng được nướng rồi phơi qua sương đêm cho mềm dẻo, ăn cuốn thịt heo luộc và nhiều loại rau rừng. Đi kèm là bánh canh Trảng Bàng, muối tôm Tây Ninh, mãng cầu núi Bà; phía Long An có gạo Nàng thơm Chợ Đào, rượu đế Gò Đen, thanh long Châu Thành và chanh không hạt Bến Lức.
Nhân vật tiêu biểu
Thời phong kiến và chống Pháp
- Nguyễn Huỳnh Đức (1748–1819) — danh tướng buổi đầu nhà Nguyễn, người đất Tân An; lăng mộ ông ở Khánh Hậu.
- Nguyễn Thông (1827–1884) — nhà thơ, nhà nho yêu nước, quê ở vùng Tân An.
- Nguyễn Trung Trực (1838–1868) — thủ lĩnh nghĩa quân, chỉ huy trận đốt tàu Espérance tại vàm Nhựt Tảo năm 1861.
- Pu Kombo — thủ lĩnh người Khmer, cùng Trương Quyền chống Pháp ở vùng Tây Ninh những năm 1860.
- Trương Quyền — con trai Trương Định, tiếp tục kháng chiến chống Pháp với căn cứ ở Tây Ninh.
Cận – hiện đại
- Ngô Văn Chiêu (1878–1932) — người được xem là môn đệ đầu tiên của đạo Cao Đài.
- Lê Văn Trung (1876–1934) — một trong những người khai đạo Cao Đài và lãnh đạo Tòa Thánh Tây Ninh những năm đầu.
- Phạm Công Tắc (1890–1959) — Hộ Pháp của đạo Cao Đài, người chủ trì việc xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh.
- Võ Văn Tần (1891–1941) — nhà cách mạng quê Đức Hòa, lãnh đạo Xứ ủy Nam Kỳ, hy sinh sau Khởi nghĩa Nam Kỳ.
- Dương Minh Châu — nhà giáo, người lãnh đạo kháng chiến chống Pháp ở Tây Ninh, tên ông được đặt cho một huyện của tỉnh.
- Trần Văn Giàu (1911–2010) — nhà sử học, nhà cách mạng quê Long An, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Nam Bộ năm 1945.
- Võ Thị Thắng (1945–2014) — người Long An, nổi tiếng với "nụ cười chiến thắng" trước tòa án Sài Gòn năm 1968.
- Phan Thị Kim Phúc (sinh 1963) — người Trảng Bàng, nhân vật trong bức ảnh chiến tranh năm 1972, sau này là đại sứ thiện chí của UNESCO.
Kinh tế
Kinh tế tỉnh mới dựa trên ba trụ cột: công nghiệp ở vành đai giáp Thành phố Hồ Chí Minh, nông nghiệp hàng hóa và thương mại cửa khẩu.
Phần Long An cũ đã thành vành đai công nghiệp với nhiều khu công nghiệp ở Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, cùng cảng quốc tế Long An trên sông Soài Rạp. Phần Tây Ninh cũ có khu công nghiệp Trảng Bàng, Phước Đông và chế biến nông sản.
Nông nghiệp gồm lúa gạo trên vùng Đồng Tháp Mười, thanh long Châu Thành, mía đường, sắn, cao su và cây ăn trái ở vùng đồi Tây Ninh. Tỉnh có các cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát sang Campuchia, cùng cửa khẩu Bình Hiệp ở Kiến Tường; Mộc Bài nằm trên tuyến đường xuyên Á nối Thành phố Hồ Chí Minh với Phnôm Pênh.
Các trục giao thông chính gồm quốc lộ 22 (đường xuyên Á), quốc lộ 1, quốc lộ 62 lên vùng Đồng Tháp Mười, đường Hồ Chí Minh (N2) và cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương đi qua Long An cũ. Du lịch tâm linh ở núi Bà Đen và Tòa Thánh là ngành dịch vụ quan trọng.
Du lịch
- Núi Bà Đen — ngọn núi cao nhất Nam Bộ, có chùa Bà trên sườn núi, tuyến cáp treo và tượng Phật trên đỉnh.1Nằm ở Phường Bình Minh
- Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh — công trình pha trộn kiến trúc Đông – Tây, với Thiên Nhãn và bức tranh Tam Thánh ở tiền sảnh.
- Hồ Dầu Tiếng — hồ thủy lợi rộng lớn với nhiều đảo nhỏ và rừng ven hồ.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Lộc Ninh
- Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát — rừng khộp và đất ngập nước ven biên giới, nơi sinh sống của nhiều loài chim.
- Khu di tích Trung ương Cục miền Nam — căn cứ kháng chiến trong rừng Tân Biên.
- Khu di tích Vàm Nhựt Tảo — nơi Nguyễn Trung Trực đốt tàu Espérance.
- Làng nổi Tân Lập — rừng tràm trên vùng trũng Đồng Tháp Mười, có đường đi bộ xuyên rừng.
- Khu bảo tồn Láng Sen — vùng đất ngập nước với sen, súng và chim nước.
- Nhà trăm cột — ngôi nhà gỗ cổ ở Cần Đước.3Nằm ở Xã Long Hựu
- Di tích Bình Tả — dấu tích kiến trúc văn hóa Óc Eo ở Đức Hòa.
- Lăng Nguyễn Huỳnh Đức — lăng mộ danh tướng ở Khánh Hậu, Tân An.
Bản đồ du lịch
3 trong 11 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.
Đang tải bản đồ…
- 1Núi Bà Đen — Phường Bình Minh
- 2Hồ Dầu Tiếng — Xã Lộc Ninh (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 3Nhà trăm cột — Xã Long Hựu
Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.