Bỏ qua, tới nội dung chính

Tỉnh · Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Nghệ An

Thông tin tổng quan

Địa lý

Vùng
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Tọa độ địa lý
19°14′ B, 104°57′ Đ
Diện tích
16.487 km²Bộ Nội vụ, 2025
Biên giới quốc gia
Lào
Bờ biển
Có — giáp biển

Dân cư

Dân số
3.831.694 ngườiBộ Nội vụ, 2025
Mật độ dân số
232,4 người/km²Bộ Nội vụ, 2025

Hành chính

Loại đơn vị
Tỉnh
Trung tâm hành chính
Vinh
Hình thành
Giữ nguyên, không sáp nhập
Đơn vị cấp xã
130 — gồm 11 phường, 119 xã
Biển số xe
37
Đầu mã bưu chính
43, 44

Kinh tế

Tăng trưởng GRDP
—Cục Thống kê, 2025

Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.

Số liệu chính

Diện tích

16.487km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 4/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Dân số

3.831.694người

Xếp hạng toàn quốc: hạng 13/34

Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.

Mật độ dân số

232người/km²

Xếp hạng toàn quốc: hạng 21/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Số đơn vị cấp xã

130đơn vị

Xếp hạng toàn quốc: hạng 5/34

Nguồn: Bộ Nội vụ

Xếp hạng theo dân số

  1. 1Thành phố Hồ Chí Minh14.668.098
  2. 2Hà Nội8.807.523
  3. 3An Giang4.995.214
  4. 4Hải Phòng4.664.124
  5. 5Đồng Nai4.491.408
  6. 6Ninh Bình4.412.264
  7. 7Đồng Tháp4.370.046
  8. 8Thanh Hóa4.320.947
  9. 9Vĩnh Long4.257.581
  10. 10Cần Thơ4.199.788
  11. 11Phú Thọ4.022.493
  12. 13Nghệ An3.831.694

Phường, xã và đặc khu

Nghệ An có 130 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh.

  • Phường11
  • Xã119

Đang tải bản đồ…

Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.

Hiển thị 130/130

Danh sách đơn vị hành chính cấp xã
TênLoạiDiện tích (km²)
An ChâuXã34,9
Anh SơnXã196,7
Anh Sơn ĐôngXã65,9
Bạch HàXã79,3
Bạch NgọcXã72,2
Bắc LýXã109,2
Bích HàoXã147,1
Bình ChuẩnXã182,2
Bình MinhXã91,1
Cam PhụcXã162,4
Cát NgạnXã59,3
Châu BìnhXã130,9
Châu HồngXã134,1
Châu KhêXã544,3
Châu LộcXã85,7
Châu TiếnXã247,2
Chiêu LưuXã196,9
Con CuôngXã155,5
Cửa LòPhường29,1
Diễn ChâuXã22,2
Đại ĐồngXã77,9
Đại HuệXã36,1
Đô LươngXã50,1
Đông HiếuXã63,9
Đông LộcXã29,3
Đông ThànhXã30,2
Đức ChâuXã21
Giai LạcXã88,6
Giai XuânXã121,6
Hải ChâuXã29,1
Hải LộcXã41,3
Hạnh LâmXã274,6
Hoa QuânXã107,7
Hoàng MaiPhường79,7
Hợp MinhXã54,8
Hùng ChânXã351,9
Hùng ChâuXã69,1
Huồi TụXã109
Hưng NguyênXã46,1
Hưng Nguyên NamXã35,8
Hữu KhuôngXã263,8
Hữu KiệmXã189
Keng ĐuXã98,2
Kim BảngXã183,3
Kim LiênXã61,1
Lam ThànhXã39,7
Lượng MinhXã228
Lương SơnXã47,4
Mậu ThạchXã164,3
Minh ChâuXã39,7
Minh HợpXã160
Môn SơnXã529,4
Mường ChọngXã173,7
Mường HamXã160,4
Mường LốngXã148,3
Mường QuàngXã342,2
Mường TípXã217,7
Mường XénXã182,5
Mỹ LýXã211
Na LoiXã141,9
Na NgoiXã341,3
Nam ĐànXã67,6
Nậm CắnXã147,7
Nga MyXã302,5
Nghi LộcXã33,3
Nghĩa ĐànXã47,3
Nghĩa ĐồngXã72,4
Nghĩa HànhXã112
Nghĩa HưngXã68,7
Nghĩa KhánhXã77,7
Nghĩa LâmXã121,8
Nghĩa LộcXã62,9
Nghĩa MaiXã147
Nghĩa ThọXã92,2
Nhân HoàXã86,9
Nhôn MaiXã310,3
Phúc LộcXã70,5
Quan ThànhXã37,7
Quảng ChâuXã26,4
Quang ĐồngXã75,6
Quế PhongXã276,6
Quỳ ChâuXã327,5
Quỳ HợpXã90,1
Quỳnh AnhXã39,8
Quỳnh LưuXã40,6
Quỳnh MaiPhường40,5
Quỳnh PhúXã33,5
Quỳnh SơnXã61,2
Quỳnh TamXã103,4
Quỳnh ThắngXã108
Quỳnh VănXã53,4
Sơn LâmXã162,9
Tam ĐồngXã53,4
Tam HợpXã136
Tam QuangXã508
Tam TháiXã356
Tân AnXã90,4
Tân ChâuXã64,6
Tân KỳXã116,5
Tân MaiPhường51,6
Tân PhúXã93,3
Tây HiếuPhường44
Thái HoàPhường27,1
Thành Bình ThọXã88,2
Thành VinhPhường15,5
Thần LĩnhXã44,7
Thiên NhẫnXã70,8
Thông ThụXã706,8
Thuần TrungXã49,3
Tiên ĐồngXã119,6
Tiền PhongXã319
Tri LễXã244
Trung LộcXã31,4
Trường VinhPhường34,2
Tương DươngXã331
Vạn AnXã56,4
Văn HiếnXã55,5
Văn KiềuXã63,5
Vân DuXã84,3
Vân TụXã48,7
Vinh HưngPhường25,5
Vinh LộcPhường38,9
Vinh PhúPhường23
Vĩnh TườngXã76,4
Xuân LâmXã60,9
Yên HoàXã211
Yên NaXã297,3
Yên ThànhXã38,1
Yên TrungXã37,7
Yên XuânXã90,4

Tổng quan

Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, trải dài từ bờ vịnh Bắc Bộ ở phía đông tới đường biên giới với Lào ở phía tây. Trung tâm hành chính là thành phố Vinh, đô thị lớn nhất và là trung tâm giáo dục, y tế, thương mại của cả vùng Bắc Trung Bộ. Địa hình của tỉnh là một dải chuyển tiếp liền mạch từ biển, qua đồng bằng và trung du, lên vùng núi cao Trường Sơn.

Xứ Nghệ — tên gọi chung cho Nghệ An và Hà Tĩnh — nổi tiếng là vùng đất khắc nghiệt nhưng hiếu học, nơi sản sinh nhiều nhà khoa bảng và nhà cách mạng. Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Phan Bội Châu, là cái nôi của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, và là nơi lưu giữ dân ca ví, giặm, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong cuộc sắp xếp năm 2025, Nghệ An là một trong 11 tỉnh, thành giữ nguyên địa giới.

Lịch sử

Tiền sử và thời dựng nước

Hang Thẩm Ồm ở miền tây Nghệ An là một trong những địa điểm phát hiện di cốt người cổ ở Việt Nam. Vùng ven biển Quỳnh Lưu có những gò vỏ sò điệp khổng lồ do cư dân thời đồ đá mới để lại, đặt tên cho văn hóa Quỳnh Văn. Thời đồ đồng, di chỉ Làng Vạc ở Nghĩa Đàn cho thấy cư dân nơi đây thuộc thế giới văn hóa Đông Sơn, với trống đồng, vũ khí và đồ trang sức bằng đồng.

Truyền thuyết gắn Nghệ An với An Dương Vương: theo tích xưa, nhà vua thua trận chạy về phương nam và đến núi Mộ Dạ thì cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước xuống biển. Đền Cuông ở Diễn Châu thờ ông.

Thời Bắc thuộc

Dưới thời Hán, vùng đất này thuộc quận Cửu Chân; đến thời Đường được gọi là Hoan Châu. Năm 722, Mai Thúc Loan khởi nghĩa ở Hoan Châu, xưng hoàng đế — sử gọi là Mai Hắc Đế — đóng thành ở Vạn An, rồi kéo quân ra chiếm phủ thành Tống Bình. Cuộc khởi nghĩa bị nhà Đường đàn áp nhưng để lại một khu đền thờ lớn ở Nam Đàn.

Thời độc lập và Hậu Lê

Thời Lý, tên Nghệ An đã xuất hiện, và vùng đất được coi là phên dậu phía nam của Đại Việt, nơi tập kết quân trong những lần tiến xuống phương Nam. Uy Minh vương Lý Nhật Quang, con vua Lý Thái Tổ, được cử trông coi châu Nghệ An và được nhân dân lập đền thờ ở Quả Sơn.

Trong khởi nghĩa Lam Sơn, theo kế sách của Nguyễn Chích, năm 1424 nghĩa quân Lê Lợi chuyển hướng vào Nghệ An, lấy nơi đây làm căn cứ để rồi tiến ra Bắc. Người Nghệ như Nguyễn Xí trở thành những khai quốc công thần của nhà Hậu Lê.

Tây Sơn và nhà Nguyễn

Tổ tiên của anh em Tây Sơn vốn mang họ Hồ ở Hưng Nguyên, Nghệ An, trước khi di cư vào Bình Định. Năm 1788, trên đường ra Bắc đánh quân Thanh, Quang Trung Nguyễn Huệ dừng ở Nghệ An tuyển quân; ông cho xây Phượng Hoàng Trung Đô dưới chân núi Dũng Quyết với ý định dời đô về đây, nhưng công trình dang dở khi ông mất.

Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, Hà Tĩnh được tách ra thành tỉnh riêng. Thành Nghệ An ở Vinh được xây đầu thế kỷ 19, đến đời Minh Mạng thì xây bằng đá ong; cổng thành và một đoạn hào vẫn còn.

Thời Pháp thuộc và phong trào cách mạng

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, các sĩ phu xứ Nghệ dấy nghĩa khắp nơi. Đầu thế kỷ 20, Phan Bội Châu khởi xướng phong trào Đông Du, đưa thanh niên sang Nhật học. Thời kỳ này Vinh – Bến Thủy trở thành một trung tâm công nghiệp nhỏ với nhà máy diêm, nhà máy cưa, xưởng sửa chữa đường sắt — nơi hình thành đội ngũ công nhân sớm ở miền Trung.

Năm 1890, Nguyễn Sinh Cung — sau này là Hồ Chí Minh — chào đời tại làng Hoàng Trù, quê ngoại, rồi lớn lên ở làng Sen (Kim Liên), quê nội, thuộc Nam Đàn.

Năm 1930–1931, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bùng lên ở Nghệ An và Hà Tĩnh; nhiều làng xã lập chính quyền tự quản. Ngày 12/9/1930, đoàn biểu tình nông dân Hưng Nguyên bị máy bay Pháp ném bom, nhiều người thiệt mạng; ngày này về sau được lấy làm ngày truyền thống của phong trào.

Chiến tranh và tái thiết

Trong kháng chiến chống Pháp, Nghệ An là vùng tự do, hậu phương trực tiếp của mặt trận Bình Trị Thiên. Trong chiến tranh chống Mỹ, Vinh bị không quân Mỹ đánh phá gần như san phẳng; sau năm 1973, thành phố được xây dựng lại với sự giúp đỡ của Cộng hòa Dân chủ Đức, để lại những khu chung cư mang dấu ấn kiến trúc Đông Đức. Ngã ba Truông Bồn trên đường 15A là trọng điểm đánh phá, nơi nhiều thanh niên xung phong hy sinh năm 1968.

Từ Nghệ Tĩnh đến cuộc sắp xếp năm 2025

Năm 1976, Nghệ An và Hà Tĩnh được hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh, tỉnh lỵ đặt tại Vinh. Năm 1991, Nghệ Tĩnh lại được chia tách thành hai tỉnh như cũ. Những năm sau đó, các đô thị như Cửa Lò, Thái Hòa, Hoàng Mai lần lượt được thành lập.

Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 (thông qua ngày 12/6/2025, hiệu lực từ 1/7/2025), Nghệ An không hợp nhất với tỉnh nào, giữ tên gọi và trung tâm hành chính tại Vinh. Cấp huyện bị bãi bỏ; tỉnh chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp gồm tỉnh và xã, phường.

Địa lý

Nghệ An giáp Thanh Hóa ở phía bắc, Hà Tĩnh ở phía nam, Lào ở phía tây và biển Đông (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông. Phần lớn diện tích là đồi núi, thuộc sườn đông dãy Trường Sơn Bắc; đỉnh Pu Xai Lai Leng trên biên giới Việt – Lào là điểm cao nhất của tỉnh. Dải đồng bằng ven biển hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra biển.

Sông chính là sông Cả (sông Lam), chảy từ Lào qua miền tây Nghệ An rồi đổ ra biển ở Cửa Hội, cùng các phụ lưu như sông Hiếu, sông Con, sông Giăng. Bờ biển có các cửa sông và bãi tắm như Cửa Lò, Bãi Lữ, Quỳnh Phương. Vùng đất đỏ bazan ở Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn, Thái Hòa) thích hợp cho cây công nghiệp và chăn nuôi bò sữa.

Miền tây Nghệ An có ba khu rừng đặc dụng Pù Mát, Pù Huống và Pù Hoạt, là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận năm 2007. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, mùa hè nóng với gió Lào khô nóng thổi từ phía tây. Bão, lũ, lũ quét ở vùng núi và hạn hán là những thiên tai thường xuyên.

Con người

Người Kinh sống chủ yếu ở đồng bằng và trung du. Miền núi là địa bàn của người Thái — cộng đồng thiểu số đông nhất tỉnh — cùng người Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu, Hoa và một số dân tộc khác. Người Ơ Đu ở vùng Tương Dương là một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam.

Tiếng Nghệ là một phương ngữ đặc sắc, với những từ như mô, tê, răng, rứa và hệ thanh điệu riêng, khiến người xứ Nghệ dễ được nhận ra ở bất cứ đâu. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng địa phương rất đậm; Nghệ An cũng là một địa bàn Công giáo lâu đời, có Tòa Giám mục Vinh ở Xã Đoài.

Hình ảnh xứ Nghệ gắn liền với cụm từ "gió Lào cát trắng" — đất hẹp, khí hậu khắc nghiệt, mùa màng bấp bênh. Người Nghệ thường được mô tả là cần cù, tiết kiệm, hiếu học, cứng cỏi và thẳng thắn, coi trọng lý lẽ và ít khi chịu khuất. Câu chuyện dân gian về "con cá gỗ" — treo một con cá gỗ để ăn cơm cho đỡ thèm — thường được kể vui về đức tính tằn tiện của người xứ Nghệ. Vùng đất này có truyền thống khoa cử lâu đời, với những làng khoa bảng như Quỳnh Đôi. Do điều kiện sống khó khăn, người Nghệ di cư đi làm ăn khắp cả nước và ra nước ngoài, và các hội đồng hương xứ Nghệ có mặt ở hầu hết các đô thị lớn.

Văn hóa

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2014. Đây là lối hát ứng tác trong lao động — hát phường vải, phường cấy, hát đò đưa trên sông Lam — trong đó trai gái đối đáp với nhau bằng lời ví, lời giặm.

Các lễ hội lớn gồm lễ hội đền Cuông thờ An Dương Vương, lễ hội đền Quả Sơn thờ Lý Nhật Quang, lễ hội đền Vua Mai ở Nam Đàn, và Lễ hội Làng Sen nhân dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/5. Các dân tộc miền núi có lễ hội mừng lúa mới, lễ cúng bản mường; người Thái nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm và các điệu nhuôn, xuối.

Kiến trúc truyền thống tiêu biểu là những ngôi nhà gỗ ba gian, nhà thờ họ và đình làng — đình Hoành Sơn ở Nam Đàn là một trong những ngôi đình chạm khắc đẹp của miền Trung. Nghề thủ công có nước mắm Vạn Phần, tương Nam Đàn, nghề mộc, đan lát và dệt thổ cẩm ở các bản Thái.

Ẩm thực Nghệ An có cháo lươn, súp lươn Vinh, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, bánh mướt, cam Vinh và chè xanh nấu đặc uống bằng bát — thức uống quen thuộc của người xứ Nghệ.

Nhân vật tiêu biểu

Thời phong kiến

  • Mai Thúc Loan (?–722) — Thủ lĩnh khởi nghĩa ở Hoan Châu năm 722, xưng Mai Hắc Đế.
  • Nguyễn Xí (1397–1465) — Danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn, khai quốc công thần nhà Hậu Lê, người Nghi Lộc.
  • Hồ Xuân Hương — Nữ sĩ nổi tiếng với thơ Nôm, quê gốc làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu.

Cận – hiện đại

  • Phan Bội Châu (1867–1940) — Nhà yêu nước quê Nam Đàn, người khởi xướng phong trào Đông Du.
  • Nguyễn Sinh Sắc (1862–1929) — Phó bảng, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làng Kim Liên.
  • Hồ Chí Minh (1890–1969) — Lãnh tụ cách mạng, người sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sinh ra ở Nam Đàn.
  • Hồ Tùng Mậu (1896–1951) — Nhà cách mạng quê Quỳnh Lưu, một trong những người tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
  • Phạm Hồng Thái (1895–1924) — Nhà yêu nước quê Hưng Nguyên, ném bom mưu sát Toàn quyền Đông Dương Merlin ở Quảng Châu năm 1924.
  • Lê Hồng Phong (1902–1942) — Nhà cách mạng quê Hưng Nguyên, lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương thời kỳ đầu.
  • Phan Đăng Lưu (1902–1941) — Nhà cách mạng quê Yên Thành.
  • Nguyễn Thị Minh Khai (1910–1941) — Nữ chiến sĩ cách mạng sinh ở Vinh.
  • Đặng Thai Mai (1902–1984) — Nhà nghiên cứu văn học, giáo sư, quê Thanh Chương.

Kinh tế

Kinh tế Nghệ An có cơ cấu đa dạng, gồm công nghiệp, nông – lâm – thủy sản và dịch vụ. Thành phố Vinh là trung tâm thương mại, tài chính, giáo dục và y tế của vùng, với Trường Đại học Vinh và nhiều bệnh viện tuyến vùng. Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An cùng các khu công nghiệp như VSIP Nghệ An, Bắc Vinh, Hoàng Mai thu hút các ngành điện tử, chế biến và vật liệu xây dựng. Xi măng, chế biến gỗ, đồ uống và may mặc là những ngành truyền thống.

Nông nghiệp mạnh ở vùng đồng bằng với lúa, lạc, rau màu; trung du và miền núi có chè, cam, mía, sắn và rừng trồng. Cao nguyên Phủ Quỳ là nơi đặt vùng chăn nuôi bò sữa tập trung với nhà máy chế biến sữa lớn. Thủy sản đánh bắt xa bờ và chế biến nước mắm phát triển ở các huyện ven biển cũ. Miền tây có nhiều nhà máy thủy điện trên sông Cả và các phụ lưu, như Bản Vẽ.

Giao thông có quốc lộ 1, đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, đường sắt Thống Nhất, đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 7 sang Lào. Cảng hàng không quốc tế Vinh và cảng Cửa Lò là cửa ngõ hàng không và hàng hải. Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn ở Kỳ Sơn nối với tỉnh Xiêng Khoảng của Lào.

Du lịch

  • Khu di tích Kim Liên — Làng Sen và làng Hoàng Trù, quê nội và quê ngoại Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những ngôi nhà tranh được giữ nguyên.1Nằm ở Xã Kim Liên
  • Vườn quốc gia Pù Mát — Vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, rừng nguyên sinh và nhiều loài thú quý.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Châu Khê
  • Thác Khe Kèm — Thác nước nhiều tầng giữa rừng Pù Mát.
  • Biển Cửa Lò — Bãi biển du lịch lâu đời, gần đảo Lan Châu và đảo Ngư.
  • Đền Cuông — Nơi thờ An Dương Vương ở chân núi Mộ Dạ, nhìn ra biển Diễn Châu.
  • Quảng trường Hồ Chí Minh — Quảng trường và tượng đài lớn ở trung tâm Vinh.
  • Thành cổ Vinh — Cổng thành và hào nước còn lại của thành Nghệ An thời Nguyễn.3Nằm ở Phường Thành Vinh
  • Núi Dũng Quyết và đền Quang Trung — Nơi Quang Trung chọn đất xây Phượng Hoàng Trung Đô.
  • Khu di tích Truông Bồn — Nơi tưởng niệm thanh niên xung phong hy sinh năm 1968.
  • Làng Quỳnh Đôi — Làng khoa bảng nổi tiếng, quê gốc của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.4Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Quỳnh Anh
  • Đồi chè Thanh Chương — Những triền chè xanh trải dài trên vùng đồi trung du.
  • Đền Vua Mai — Khu đền thờ Mai Thúc Loan ở Nam Đàn.

Bản đồ du lịch

4 trong 12 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.

Đang tải bản đồ…

  1. 1Khu di tích Kim Liên — Xã Kim Liên
  2. 2Vườn quốc gia Pù Mát — Xã Châu Khê (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  3. 3Thành cổ Vinh — Phường Thành Vinh
  4. 4Làng Quỳnh Đôi — Xã Quỳnh Anh (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)

Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.