Tỉnh · Đồng bằng sông Cửu Long
Cà Mau
Thông tin tổng quan
Địa lý
- Vùng
- Đồng bằng sông Cửu Long
- Tọa độ địa lý
- 9°08′ B, 105°10′ Đ
- Diện tích
- 6.310,6 km²Bộ Nội vụ, 2025
- Biên giới quốc gia
- Không
- Bờ biển
- Có — giáp biển
Dân cư
- Dân số
- 1.988.464 ngườiBộ Nội vụ, 2025
- Mật độ dân số
- 315,1 người/km²Bộ Nội vụ, 2025
Hành chính
- Loại đơn vị
- Tỉnh
- Trung tâm hành chính
- Cà Mau
- Hình thành
- Hợp nhất từ Bạc Liêu, Cà Mau (1/7/2025)
- Đơn vị cấp xã
- 64 — gồm 9 phường, 55 xã
- Biển số xe
- 69, 94
- Đầu mã bưu chính
- 97, 98
Kinh tế
- Tăng trưởng GRDP
- —Cục Thống kê, 2025
Tọa độ là một điểm nằm trong lãnh thổ tỉnh; giáp ranh, biên giới và bờ biển được suy ra từ dữ liệu ranh giới, không nhập tay. Danh sách xã, phường: Cục Thống kê; ranh giới và diện tích cấp xã: bản đồ sapnhap.bando.com.vn.
Hình thành từ
Số liệu chính
Diện tích
6.311km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 24/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Dân số
1.988.464người
Xếp hạng toàn quốc: hạng 22/34
Nguồn: Bộ Nội vụ · Quy mô dân số theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính 2025 (có quy đổi), không phải dân số thường trú theo điều tra của Cục Thống kê.
Mật độ dân số
315người/km²
Xếp hạng toàn quốc: hạng 15/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Số đơn vị cấp xã
64đơn vị
Xếp hạng toàn quốc: hạng 29/34
Nguồn: Bộ Nội vụ
Xếp hạng theo dân số
Phường, xã và đặc khu
Cà Mau có 64 đơn vị hành chính cấp xã. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện: các phường, xã, đặc khu trực thuộc thẳng cấp tỉnh. Bản đồ tô màu theo tỉnh cũ cho thấy mỗi xã, phường hiện nay nằm trên vùng đất của tỉnh nào trước sáp nhập.
- Bạc Liêu25
- Cà Mau39
Đang tải bản đồ…
Rê chuột (hoặc chạm trên điện thoại) để xem tên; bấm vào một xã, phường để tìm nó trong danh sách. Đường nét đứt là ranh giới tỉnh cũ.
Hiển thị 64/64
| Tên | Loại | Thuộc tỉnh cũ | Diện tích (km²) | Mã bưu chính | Mã ĐVHC |
|---|---|---|---|---|---|
| An Trạch | Xã | Bạc Liêu | 49,2 | ||
| An Xuyên | Phường | Cà Mau | 69,9 | ||
| Bạc Liêu | Phường | Bạc Liêu | 6 | ||
| Biển Bạch | Xã | Cà Mau | 158,2 | ||
| Cái Đôi Vàm | Xã | Cà Mau | 131,1 | ||
| Cái Nước | Xã | Cà Mau | 118,3 | ||
| Châu Thới | Xã | Bạc Liêu | 23 | ||
| Đá Bạc | Xã | Cà Mau | 211,9 | ||
| Đầm Dơi | Xã | Cà Mau | 96,2 | ||
| Đất Mới | Xã | Cà Mau | 222,9 | ||
| Đất Mũi | Xã | Cà Mau | 271,2 | ||
| Định Thành | Xã | Bạc Liêu | 31,6 | ||
| Đông Hải | Xã | Bạc Liêu | 100,2 | ||
| Gành Hào | Xã | Bạc Liêu | 13,4 | ||
| Giá Rai | Phường | Bạc Liêu | 11,8 | ||
| Hiệp Thành | Phường | Bạc Liêu | 29,1 | ||
| Hoà Bình | Xã | Bạc Liêu | 26,5 | ||
| Hoà Thành | Phường | Cà Mau | 97,3 | ||
| Hồ Thị Kỷ | Xã | Cà Mau | 93,6 | ||
| Hồng Dân | Xã | Bạc Liêu | 15,6 | ||
| Hưng Hội | Xã | Bạc Liêu | 28,4 | ||
| Hưng Mỹ | Xã | Cà Mau | 98,4 | ||
| Khánh An | Xã | Cà Mau | 177,7 | ||
| Khánh Bình | Xã | Cà Mau | 104,5 | ||
| Khánh Hưng | Xã | Cà Mau | 129,6 | ||
| Khánh Lâm | Xã | Cà Mau | 208,2 | ||
| Láng Tròn | Phường | Bạc Liêu | 32,2 | ||
| Long Điền | Xã | Bạc Liêu | 87,7 | ||
| Lương Thế Trân | Xã | Cà Mau | 142,4 | ||
| Lý Văn Lâm | Phường | Cà Mau | 44,5 | ||
| Năm Căn | Xã | Cà Mau | 70,1 | ||
| Nguyễn Phích | Xã | Cà Mau | 245 | ||
| Nguyễn Việt Khái | Xã | Cà Mau | 129,9 | ||
| Ninh Quới | Xã | Bạc Liêu | 32,4 | ||
| Ninh Thạnh Lợi | Xã | Bạc Liêu | 66,4 | ||
| Phan Ngọc Hiển | Xã | Cà Mau | 237,7 | ||
| Phong Hiệp | Xã | Bạc Liêu | 56 | ||
| Phong Thạnh | Xã | Bạc Liêu | 27,1 | ||
| Phú Mỹ | Xã | Cà Mau | 87,8 | ||
| Phú Tân | Xã | Cà Mau | 101,7 | ||
| Phước Long | Xã | Bạc Liêu | 49,5 | ||
| Quách Phẩm | Xã | Cà Mau | 73,8 | ||
| Sông Đốc | Xã | Cà Mau | 84 | ||
| Tạ An Khương | Xã | Cà Mau | 104,2 | ||
| Tam Giang | Xã | Cà Mau | 205,2 | ||
| Tân Ân | Xã | Cà Mau | 218,3 | ||
| Tân Hưng | Xã | Cà Mau | 92,4 | ||
| Tân Lộc | Xã | Cà Mau | 96,8 | ||
| Tân Thành | Phường | Cà Mau | 48,4 | ||
| Tân Thuận | Xã | Cà Mau | 169,8 | ||
| Tân Tiến | Xã | Cà Mau | 207,2 | ||
| Thanh Tùng | Xã | Cà Mau | 89,9 | ||
| Thới Bình | Xã | Cà Mau | 121 | ||
| Trần Phán | Xã | Cà Mau | 74,9 | ||
| Trần Văn Thời | Xã | Cà Mau | 128,7 | ||
| Trí Phải | Xã | Cà Mau | 166,6 | ||
| U Minh | Xã | Cà Mau | 145 | ||
| Vĩnh Hậu | Xã | Bạc Liêu | 105,9 | ||
| Vĩnh Lộc | Xã | Bạc Liêu | 48,5 | ||
| Vĩnh Lợi | Xã | Bạc Liêu | 32 | ||
| Vĩnh Mỹ | Xã | Bạc Liêu | 40,7 | ||
| Vĩnh Phước | Xã | Bạc Liêu | 75,5 | ||
| Vĩnh Thanh | Xã | Bạc Liêu | 37,4 | ||
| Vĩnh Trạch | Phường | Bạc Liêu | 10,2 |
Tổng quan
Tỉnh Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, chiếm phần lớn bán đảo Cà Mau với ba mặt giáp biển: biển Đông ở phía đông và nam, vịnh Thái Lan ở phía tây. Tỉnh hiện nay được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 202/2025/QH15, trên cơ sở hợp nhất tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu; tên gọi Cà Mau và trung tâm hành chính tại Cà Mau được giữ lại.
Đây là vùng đất được khai phá muộn nhất của đất nước, nổi tiếng với mũi Cà Mau — điểm cực nam đất liền, với rừng đước, rừng tràm U Minh và những bãi bồi vẫn đang lấn ra biển. Bạc Liêu đem vào tỉnh mới một di sản văn hóa đặc biệt: đây là nơi bản "Dạ cổ hoài lang" ra đời, quê hương của giai thoại Công tử Bạc Liêu, của đồng muối và những cánh đồng điện gió ven biển. Cả hai vùng hợp thành một trong những vùng nuôi tôm quan trọng bậc nhất của cả nước.
Lịch sử
Thời cổ và vùng đất của người Khmer
Bán đảo Cà Mau hình thành muộn, do phù sa sông Cửu Long và dòng hải lưu bồi đắp. Ở Bạc Liêu, tháp cổ Vĩnh Hưng — ngôi tháp gạch thuộc giai đoạn hậu Óc Eo — là dấu tích hiếm hoi của các cư dân cổ trên vùng đất này. Trước khi người Việt đến, cư dân chủ yếu là người Khmer sống rải rác trên các giồng đất cao. Tên "Cà Mau" thường được giải thích từ tiếng Khmer Tưk Khmau — "nước đen", màu nước của rừng tràm ngập lá mục.
Thế kỷ 18 – thời Nguyễn
Đầu thế kỷ 18, vùng đất này thuộc phạm vi cai quản của họ Mạc ở Hà Tiên. Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm các đạo, trong đó có Long Xuyên (vùng Cà Mau) và Trấn Di (vùng Bạc Liêu – Sóc Trăng). Lưu dân người Việt, người Hoa theo đường biển và kênh rạch đến khai phá; nhiều người Hoa gốc Triều Châu định cư ở Bạc Liêu, làm muối, trồng trọt và buôn bán. Dưới triều Nguyễn, vùng Cà Mau thuộc huyện Long Xuyên của trấn, rồi tỉnh Hà Tiên; vùng Bạc Liêu thuộc phủ Ba Xuyên của tỉnh An Giang.
Thời Pháp thuộc
Năm 1882, người Pháp lập hạt Bạc Liêu từ một phần đất của Sóc Trăng và Rạch Giá, bao gồm cả vùng Cà Mau; từ năm 1900 hạt đổi thành tỉnh. Người Pháp đào kênh, khai hoang trên diện rộng, hình thành tầng lớp đại điền chủ giàu có, mà biểu tượng là gia đình Trần Trinh Trạch và người con trai Trần Trinh Huy — Công tử Bạc Liêu. Năm 1919, ở Bạc Liêu, nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác bản "Dạ cổ hoài lang", sau phát triển thành điệu vọng cổ, trụ cột của cải lương.
Mâu thuẫn ruộng đất ngày càng gay gắt: năm 1928, sự kiện đồng Nọc Nạng ở Giá Rai — một gia đình nông dân chống lại việc cướp đất — gây chấn động Nam Kỳ. Đêm 13/12/1940, cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai do thầy giáo Phan Ngọc Hiển lãnh đạo nổ ra trên đảo trong làn sóng Khởi nghĩa Nam Kỳ cuối năm ấy.
Hai cuộc kháng chiến
Rừng U Minh và vùng sông nước Cà Mau là căn cứ địa kháng chiến quan trọng của Nam Bộ trong cả hai cuộc chiến tranh. Sau Hiệp định Genève năm 1954, Cà Mau là một trong những khu vực tập kết, nơi nhiều cán bộ, chiến sĩ miền Nam lên tàu ra Bắc. Dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa, vùng Cà Mau được tách thành tỉnh An Xuyên từ năm 1956; Bạc Liêu có thời gian bị chia nhập vào các tỉnh lân cận rồi được tái lập.
Sau năm 1975
Năm 1976, Bạc Liêu và Cà Mau hợp nhất thành tỉnh Minh Hải. Ngày 1/1/1997, theo nghị quyết của Quốc hội năm 1996, Minh Hải được chia lại thành hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Trong gần ba thập niên sau đó, hai tỉnh phát triển mạnh nghề nuôi tôm, và Cà Mau trở thành nơi đặt cụm công nghiệp khí – điện – đạm.
Cà Mau cũ
Tỉnh cực nam, tỉnh lỵ thành phố Cà Mau, gồm vùng U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình, Cái Nước, Đầm Dơi, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển. Nổi tiếng với rừng ngập mặn, rừng tràm, mũi Cà Mau và cụm đảo Hòn Khoai.
Bạc Liêu cũ
Tỉnh ven biển phía đông, tỉnh lỵ thành phố Bạc Liêu, gồm Vĩnh Lợi, Hòa Bình, Giá Rai, Đông Hải, Phước Long, Hồng Dân. Nổi tiếng với đờn ca tài tử, đồng muối, vườn nhãn, Công tử Bạc Liêu và điện gió.
Hợp nhất năm 2025
Nghị quyết 202/2025/QH15, thông qua ngày 12/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, hợp nhất tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành tỉnh Cà Mau, trung tâm hành chính đặt tại Cà Mau. Cấp huyện được bãi bỏ; tỉnh tổ chức chính quyền hai cấp gồm cấp tỉnh và cấp xã, phường. Biển số xe 69 (Cà Mau) và 94 (Bạc Liêu) vẫn tiếp tục được sử dụng. Về địa giới, tỉnh mới gần như trùng với tỉnh Minh Hải giai đoạn 1976–1996.
Địa lý
Tỉnh nằm ở tận cùng phía nam đồng bằng sông Cửu Long. Phía bắc giáp An Giang và Cần Thơ; phía đông và nam giáp biển Đông; phía tây giáp vịnh Thái Lan. Điểm cực nam đất liền nằm ở Đất Mũi.
Địa hình thấp, bằng phẳng, nhiều vùng trũng ngập nước. Phía tây bắc là vùng rừng tràm U Minh Hạ trên đất than bùn; phía nam là rừng ngập mặn đước, mắm, vẹt ở Năm Căn, Ngọc Hiển. Mạng lưới sông rạch dày đặc với các sông Gành Hào, Ông Đốc, Bảy Háp, Cửa Lớn, Trèm Trẹm và kênh xáng. Ven bờ tây có cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc. Bờ biển phía đông là bãi bùn, phía tây và mũi Cà Mau có bãi bồi tiếp tục lấn ra biển, trong khi nhiều đoạn bờ biển phía đông bị xói lở. Ở Bạc Liêu cũ, dải đất ven biển có các đồng muối và vùng nuôi tôm nước lợ; phía bắc là vùng lúa ngọt hóa.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nóng quanh năm, mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Các khu bảo vệ gồm Vườn quốc gia Mũi Cà Mau — vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau (UNESCO công nhận năm 2009) và là khu Ramsar — và Vườn quốc gia U Minh Hạ; Bạc Liêu có vườn chim Bạc Liêu. Thiên tai gồm xói lở bờ biển, xâm nhập mặn, hạn hán và cháy rừng tràm mùa khô, triều cường và sụt lún đất.
Con người
Phần lớn cư dân là người Kinh; cộng đồng người Khmer sống tập trung ở một số vùng của Bạc Liêu và Cà Mau, và người Hoa, phần lớn gốc Triều Châu, đông nhất ở thành phố Bạc Liêu và các thị trấn. Câu ca dao quen thuộc "Bạc Liêu là xứ quê mùa / Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu" ghi lại sự hiện diện lâu đời của người Hoa nơi đây.
Tiếng nói là phương ngữ Nam Bộ, với nhiều từ ngữ riêng của vùng sông nước rừng biển. Về tín ngưỡng, có Phật giáo (Bắc tông của người Kinh, người Hoa; Nam tông của người Khmer), thờ cúng tổ tiên, thờ cá Ông (cá voi) của ngư dân ven biển, Cao Đài và Công giáo, với nhà thờ Tắc Sậy ở Giá Rai là nơi hành hương lớn.
Lịch sử con người nơi đây là lịch sử khẩn hoang gian khổ giữa rừng thiêng nước độc. Ca dao còn câu "Tới đây xứ sở lạ lùng / Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh" để nói về buổi đầu mở đất. Người Cà Mau, Bạc Liêu thường được mô tả là phóng khoáng, hào sảng, trọng nghĩa, chịu thương chịu khó, gan góc trước thiên nhiên. Những câu chuyện "nói dóc" vui của Bác Ba Phi về rừng U Minh — cọp, rắn, cá, chim nhiều không kể xiết — phản ánh óc hài hước và sự lạc quan của người khẩn hoang. Người Bạc Liêu còn gắn với tiếng "chơi ngông" qua những giai thoại về Công tử Bạc Liêu, và với lòng mê đờn ca.
Văn hóa
Bạc Liêu là một trong những cái nôi của đờn ca tài tử Nam Bộ — di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh năm 2013 — và là nơi bản "Dạ cổ hoài lang" ra đời, mở đường cho điệu vọng cổ và sân khấu cải lương. Đờn ca vẫn sinh hoạt rộng khắp trong các xóm ấp, đám tiệc.
Lễ hội tiêu biểu gồm lễ hội Nghinh Ông của ngư dân ven biển (như ở Sông Đốc, Gành Hào), lễ hội Kỳ yên ở các đình làng, các lễ Chol Chnam Thmay, Sene Dolta, Ok Om Bok của người Khmer, lễ hội của người Hoa ở các chùa, miếu. Kiến trúc có các chùa Khmer như chùa Xiêm Cán, các chùa Hoa, nhà Công tử Bạc Liêu kiểu Pháp, và tháp cổ Vĩnh Hưng.
Nghề truyền thống gắn với rừng và biển: làm muối ở Bạc Liêu (muối Bạc Liêu có chỉ dẫn địa lý), lò than đước ở Năm Căn, đan đệm bàng, đóng ghe, làm mắm, làm tôm khô. Ẩm thực đậm chất rừng – biển: cua Cà Mau, ba khía muối Rạch Gốc, tôm khô Rạch Gốc, cá thòi lòi, cá kèo, ong mật rừng U Minh, mắm, lẩu mắm U Minh, bánh tằm Ngan Dừa, bún bò cay Bạc Liêu, nhãn Bạc Liêu.
Nhân vật tiêu biểu
Trước thế kỷ 20
- Mạc Thiên Tứ (1718–1780) — trấn thủ Hà Tiên, người lập các đạo Long Xuyên (Cà Mau) và Trấn Di năm 1739.
Thời Pháp thuộc và kháng chiến
- Trần Trinh Trạch — đại điền chủ giàu có bậc nhất Bạc Liêu đầu thế kỷ 20.
- Trần Trinh Huy — con trai Trần Trinh Trạch, được biết đến với biệt danh "Công tử Bạc Liêu" cùng những giai thoại ăn chơi.
- Cao Văn Lầu — nhạc sĩ, gắn bó cả đời với Bạc Liêu, tác giả bản "Dạ cổ hoài lang" năm 1919.
- Bác Ba Phi — người kể chuyện dân gian vùng U Minh, Cà Mau, với những truyện kể "nói dóc" nổi tiếng.
- Phan Ngọc Hiển — thầy giáo, người lãnh đạo khởi nghĩa Hòn Khoai năm 1940; tên ông được đặt cho huyện Ngọc Hiển.
- Trần Văn Thời — chiến sĩ cách mạng thời Khởi nghĩa Nam Kỳ; tên ông được đặt cho huyện Trần Văn Thời.
- Trương Bửu Diệp (1897–1946) — linh mục coi sóc giáo xứ Tắc Sậy, bị sát hại năm 1946; nơi an táng ông là điểm hành hương lớn.
- Lê Thị Riêng (1925–1968) — nhà hoạt động cách mạng sinh ở Bạc Liêu, lãnh đạo phong trào phụ nữ ở Sài Gòn.
- Ngô Thị Huệ — nhà hoạt động cách mạng quê Bạc Liêu, từng bị tù ở Côn Đảo.
- Hồ Thị Kỷ — nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, quê Thới Bình, Cà Mau.
Đương đại
- Nguyễn Ngọc Tư (sinh 1976) — nhà văn sinh ở Đầm Dơi, Cà Mau, tác giả "Cánh đồng bất tận".
Kinh tế
Kinh tế dựa trên thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ với nhiều mô hình: tôm – rừng ở vùng rừng ngập mặn, tôm – lúa ở vùng chuyển tiếp, tôm công nghệ cao ở ven biển. Cùng với nuôi cua, sò huyết và khai thác hải sản xa bờ, tỉnh là một trong những trung tâm chế biến và xuất khẩu tôm quan trọng nhất cả nước. Vùng ngọt hóa phía bắc trồng lúa; Bạc Liêu cũ có đồng muối và vườn nhãn.
Công nghiệp tập trung ở cụm khí – điện – đạm Cà Mau, dùng khí từ biển Tây Nam, cùng các nhà máy chế biến thủy sản và khu công nghiệp ở Cà Mau, Bạc Liêu. Bờ biển Bạc Liêu cũ có nhà máy điện gió Bạc Liêu, nhà máy điện gió gần bờ đầu tiên của Việt Nam, và nhiều dự án điện gió tiếp theo.
Giao thông gồm sân bay Cà Mau, cảng cá Sông Đốc, Gành Hào, cảng Năm Căn, quốc lộ 1 (tới Năm Căn), đường Hồ Chí Minh kéo tới Đất Mũi, tuyến cao tốc Cần Thơ – Cà Mau và mạng lưới đường thủy dày đặc.
Du lịch
- Mũi Cà Mau — điểm cực nam đất liền, có cột mốc tọa độ quốc gia và biểu tượng con tàu hướng ra biển.1Nằm ở Xã Đất Mũi
- Vườn quốc gia Mũi Cà Mau — khu dự trữ sinh quyển thế giới và khu Ramsar, rừng đước ken dày.2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Đất Mũi
- Vườn quốc gia U Minh Hạ — rừng tràm trên đất than bùn, hệ sinh thái đặc trưng của đồng bằng.3Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Khánh An
- Đầm Thị Tường — đầm nước tự nhiên rộng giữa đồng bằng.4Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Phú Mỹ
- Hòn Đá Bạc — cụm đảo đá sát bờ biển phía tây, có di tích kháng chiến.5Nằm ở Xã Đá Bạc
- Cụm đảo Hòn Khoai — nơi diễn ra khởi nghĩa Hòn Khoai năm 1940, có ngọn hải đăng xây từ thời Pháp.
- Rừng đước Năm Căn — vùng rừng ngập mặn và lò than đước.
- Nhà Công tử Bạc Liêu — ngôi nhà kiểu Pháp của gia đình Trần Trinh Huy.
- Khu lưu niệm Cao Văn Lầu — nơi tưởng niệm tác giả "Dạ cổ hoài lang".
- Quán Âm Phật đài — tượng Phật Bà bên bờ biển Nhà Mát, Bạc Liêu.
- Vườn chim Bạc Liêu — khu rừng tự nhiên nơi nhiều loài chim trú ngụ.
- Cánh đồng điện gió Bạc Liêu — hàng trụ turbine trên bãi bồi ven biển.6Nằm ở Phường Hiệp Thành
- Nhà thờ Tắc Sậy — nơi hành hương gắn với linh mục Trương Bửu Diệp.
- Chùa Xiêm Cán — ngôi chùa Khmer lộng lẫy ở ven biển Bạc Liêu.
- Tháp cổ Vĩnh Hưng — tháp gạch cổ, dấu tích của cư dân thời kỳ hậu Óc Eo.
- Di tích đồng Nọc Nạng — nơi ghi dấu sự kiện năm 1928 ở Giá Rai.
Bản đồ du lịch
6 trong 16 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.
Đang tải bản đồ…
- 1Mũi Cà Mau — Xã Đất Mũi
- 2Vườn quốc gia Mũi Cà Mau — Xã Đất Mũi (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 3Vườn quốc gia U Minh Hạ — Xã Khánh An (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 4Đầm Thị Tường — Xã Phú Mỹ (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
- 5Hòn Đá Bạc — Xã Đá Bạc
- 6Cánh đồng điện gió Bạc Liêu — Phường Hiệp Thành
Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.