Bỏ qua, tới nội dung chính

Cuộc sáp nhập 2025: từ 63 xuống 34

Tuyên Quang

Nay thuộc

Tuyên Quang

Hiệu lực từ 1/7/2025

Biển số xe
22

Hình thành từ — Tuyên Quang

Các xã, phường nay nằm trên đất Tuyên Quang

Sau sáp nhập, vùng đất của Tuyên Quang cũ gồm 51 đơn vị cấp xã thuộc Tuyên Quang: 5 phường, 46 xã. Vị trí được xác định bằng một điểm nằm trong mỗi xã, phường, đối chiếu với ranh giới tỉnh cũ.

Phường, xã và đặc khu — Tuyên Quang →

Hồ sơ tỉnh cũ

Tổng quan

Tuyên Quang (cũ) là tỉnh trung du và miền núi phía Bắc tồn tại đến ngày 30/6/2025, nằm trên lưu vực sông Lô và sông Gâm, tỉnh lỵ là thành phố Tuyên Quang. Từ ngày 1/7/2025, tỉnh hợp nhất với Hà Giang thành tỉnh Tuyên Quang mới, giữ nguyên tên gọi và trung tâm hành chính.

Tỉnh được biết đến như "Thủ đô Khu giải phóng" và "Thủ đô kháng chiến", với khu di tích Tân Trào gắn với Quốc dân Đại hội tháng 8/1945. Bên cạnh đó là hồ thủy điện Na Hang giữa núi đá vôi, vùng cam sành Hàm Yên, lễ hội đèn lồng Thành Tuyên và đời sống văn hóa phong phú của người Tày, Dao, Cao Lan, Sán Chí, Pà Thẻn.

Lịch sử

Thời phong kiến

Vùng thượng du sông Lô có người sinh sống từ thời tiền sử, với dấu tích trong các hang động đá vôi. Từ thời Lý – Trần, đây là địa bàn của các tù trưởng người Tày thần phục triều đình. Tên Tuyên Quang xuất hiện từ thời Trần, và dưới triều Lê sơ, Tuyên Quang là một trong các đạo thừa tuyên của Đại Việt.

Thế kỷ 16 – 17, dòng họ Vũ (chúa Bầu) cát cứ Tuyên Quang, giữ thế gần như tự trị trong thời Lê – Mạc phân tranh, đến cuối thế kỷ 17 mới bị chúa Trịnh dẹp. Thành nhà Mạc ở trung tâm thành phố là dấu tích quân sự còn lại từ thời kỳ này. Năm 1831 – 1832, vua Minh Mạng đặt tỉnh Tuyên Quang, bao gồm cả vùng Hà Giang ngày nay. Những năm 1833 – 1835, khởi nghĩa Nông Văn Vân lan khắp vùng thượng du của tỉnh.

Thời Pháp thuộc

Cuối năm 1884 đến đầu năm 1885, quân Cờ Đen và quân Thanh vây hãm đồn Pháp ở Tuyên Quang trong nhiều tháng — một trong những trận đánh lớn của chiến tranh Pháp – Thanh. Năm 1891, người Pháp tách vùng biên giới phía bắc lập đạo quan binh Hà Giang, thu hẹp Tuyên Quang về gần với phạm vi sau này.

Cách mạng và kháng chiến

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào (Sơn Dương). Tháng 6/1945, Khu giải phóng ra đời với Tân Trào là trung tâm. Giữa tháng 8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, quyết định tổng khởi nghĩa và bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng. Ngày 16/8/1945, Việt Nam Giải phóng quân làm lễ xuất quân dưới gốc đa Tân Trào.

Trong kháng chiến chống Pháp, Tuyên Quang là một trong những tỉnh cốt lõi của chiến khu Việt Bắc, với ATK trải qua Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa, nơi đặt nhiều cơ quan Trung ương, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh. Chiến thắng sông Lô trong chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 được nhạc sĩ Văn Cao ghi lại trong Trường ca Sông Lô.

Từ Hà Tuyên đến năm 2025

Năm 1976, Tuyên Quang hợp nhất với Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên, tỉnh lỵ ở thị xã Tuyên Quang. Năm 1991, Hà Tuyên được chia lại, tỉnh Tuyên Quang được tái lập. Thị xã Tuyên Quang trở thành thành phố năm 2010. Các công trình lớn của giai đoạn này gồm nhà máy thủy điện Tuyên Quang ở Na Hang và tuyến cao tốc nối với cao tốc Nội Bài – Lào Cai.

Sáp nhập năm 2025

Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 (thông qua ngày 12/6/2025, hiệu lực từ ngày 1/7/2025), tỉnh Tuyên Quang hợp nhất với tỉnh Hà Giang thành tỉnh Tuyên Quang. Tên gọi Tuyên Quang và trung tâm hành chính tại Tuyên Quang được giữ lại; cấp huyện bị bãi bỏ, chính quyền địa phương còn hai cấp tỉnh và xã, phường. Biển số xe 22 của Tuyên Quang cũ tiếp tục được dùng trong tỉnh mới, bên cạnh biển số 23 của Hà Giang. Các tên địa danh như Tân Trào, Na Hang, Lâm Bình, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Sơn Dương vẫn còn trong tên các xã và trong đời sống thường ngày.

Địa lý

Tuyên Quang cũ phía bắc giáp Hà Giang, phía đông giáp Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, phía nam giáp Vĩnh Phúc và Phú Thọ, phía tây giáp Yên Bái. Địa hình gồm vùng núi cao ở phía bắc (Na Hang, Lâm Bình), vùng đồi núi thấp và thung lũng ở giữa, vùng trung du ở phía nam. Dãy Tam Đảo chạy dọc ranh giới phía đông nam.

Sông Lô chảy qua thành phố Tuyên Quang; sông Gâm chảy qua Na Hang, Chiêm Hóa và được ngăn đập tạo thành hồ Na Hang; ngoài ra còn sông Phó Đáy ở Sơn Dương. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh. Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang là nơi sinh sống của voọc mũi hếch. Thiên tai thường gặp là lũ trên sông Lô, sông Gâm, lũ quét và sạt lở đất ở vùng núi.

Con người

Cư dân gồm người Kinh, Tày, Dao, Sán Chay (Cao Lan, Sán Chí), Mông, Sán Dìu, Nùng và người Pà Thẻn ở Lâm Bình. Người Tày đông ở các huyện phía bắc; người Kinh tập trung ở thành phố và vùng trung du phía nam, nhiều người là con cháu các đợt di dân khai hoang từ đồng bằng. Tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng tổ tiên, thờ thần, nghi lễ Then của người Tày và lễ cấp sắc của người Dao.

Người Tuyên Quang thường được miêu tả là hiền hòa, mến khách và tự hào về truyền thống cách mạng của quê hương. Câu nói "Chè Thái, gái Tuyên" gắn với tiếng tăm về vẻ đẹp của con gái Tuyên Quang.

Văn hóa

Lễ hội Thành Tuyên vào dịp Trung thu, với những mô hình đèn lồng khổng lồ diễu hành qua phố, là nét riêng nổi tiếng nhất của thành phố. Các nghi lễ Then của người Tày — thuộc di sản Thực hành Then được UNESCO ghi danh năm 2019 — lễ hội Lồng tồng, hát sình ca của người Cao Lan, múa tắc xình của người Sán Chay, lễ cấp sắc người Dao và múa lửa của người Pà Thẻn là những sinh hoạt văn hóa tiêu biểu.

Kiến trúc truyền thống là nhà sàn của người Tày; đình Tân Trào, đình Hồng Thái là những ngôi đình gắn với lịch sử cách mạng. Ẩm thực có cá sông Lô, bánh gai Chiêm Hóa, măng, thịt lợn đen, và các nông sản như cam sành Hàm Yên, bưởi, chè Shan tuyết Na Hang.

Nhân vật tiêu biểu

  • Vũ Văn Mật (thế kỷ 16) — người mở đầu thế lực họ Vũ (chúa Bầu), cát cứ Tuyên Quang thời Lê – Mạc phân tranh.
  • Nông Văn Vân (mất 1835) — tri châu Bảo Lạc, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa 1833 – 1835 lan khắp thượng du Tuyên Quang.
  • Hồ Chí Minh (1890–1969) — sống và làm việc ở Tân Trào năm 1945, chỉ đạo tổng khởi nghĩa từ đây.
  • Võ Nguyên Giáp (1911–2013) — chỉ huy lễ xuất quân của Việt Nam Giải phóng quân dưới gốc đa Tân Trào ngày 16/8/1945.
  • Trường Chinh (1907–1988) — Tổng Bí thư, chủ trì Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào tháng 8/1945.
  • Hà Thị Khiết — nữ chính khách người Tày quê Tuyên Quang, từng là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Trưởng ban Dân vận Trung ương.

Kinh tế

Kinh tế Tuyên Quang cũ dựa vào nông – lâm nghiệp, thủy điện, công nghiệp chế biến và du lịch. Rừng trồng cung cấp gỗ cho chế biến gỗ, giấy; nông nghiệp có cam, bưởi, chè, lúa, ngô và chăn nuôi. Nhà máy thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm là công trình công nghiệp lớn nhất. Khu công nghiệp Long Bình An và các cụm công nghiệp quanh thành phố tập trung chế biến, khai khoáng, vật liệu xây dựng. Quốc lộ 2 và tuyến cao tốc nối với cao tốc Nội Bài – Lào Cai là các trục giao thông chính.

Du lịch

  • Khu di tích Tân Trào — Đình Tân Trào, lán Nà Nưa, cây đa lịch sử.1Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Tân Trào
  • Hồ Na Hang – Lâm Bình — Hồ thủy điện giữa núi đá vôi, được ví như "Hạ Long giữa đại ngàn".2Khu vực rộng — điểm đánh dấu ở Xã Lâm Bình
  • Thành nhà Mạc — Dấu tích thành cổ ở trung tâm thành phố Tuyên Quang.
  • Suối khoáng Mỹ Lâm — Khu nước khoáng nóng gần thành phố.
  • Lễ hội Thành Tuyên — Lễ hội đèn lồng dịp Trung thu ở thành phố Tuyên Quang.

Bản đồ du lịch

2 trong 5 địa điểm ở mục Du lịch được xác định vị trí. Số trên bản đồ khớp với số bên cạnh mỗi địa điểm trong bài.

Đang tải bản đồ…

  1. 1Khu di tích Tân Trào — Xã Tân Trào (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)
  2. 2Hồ Na Hang – Lâm Bình — Xã Lâm Bình (khu vực rộng, chỉ là điểm đánh dấu)

Tọa độ lấy từ Wikidata và chỉ được nhận khi nằm trong ranh giới tỉnh; xã, phường được suy ra từ tọa độ đó. Địa điểm không tìm thấy hoặc không khớp được bỏ trống, không đoán. Với sông, vịnh, vườn quốc gia hay huyện cũ, điểm đánh dấu chỉ là một điểm đại diện của cả khu vực.